Chuyên mục
  Thông tin thương hiệu
  Kiến thức thương hiệu
  Tình huống thương hiệu
  Download chuyên đề
  Giới thiệu Agency, Freelance
  Thiết kế & Thương hiệu
  Quảng cáo & Thương hiệu
  Thương hiệu trong phim
  Thương hiệu hàng đầu
  Sách thương hiệu
  Thuật ngữ thương hiệu
  Mua bán nhượng quyền
  Đo lường thương hiệu
  Đo lường website
  Tìm kiếm
 
  Trang chủ  >  Tình huống thương hiệu >
Khi ngành quảng cáo kết hợp với công nghệ giải trí
Cập nhật 13-12-2004 06:05
Trong quá trình xây dựng thương hiệu, các phương tiện truyền thông luôn được các nhà quảng cáo tận dụng, khai thác một cách triệt để. Hãy thử một lần đặt mình vào vị trí người tiêu dùng để thấy rằng người tiêu dùng ngày nay đang trở nên quá tải với hàng trăm thông điệp của các nhà quảng cáo mỗi ngày xuất phát từ các nguồn như TV, radio, báo chí …

Vấn đề đặt ra đối với các nhà xây dựng thương hiệu là làm sao tìm kiếm được càng nhiều kênh truyền thông mới dễ dàng tiếp cận với khách hàng của mình hơn. Từ đó, khái niệm Product Placement ra đời như một cứu cánh của các nhà quảng cáo khi đang bế tắc với công cụ quảng cáo truyền thông.

 

Product placement ( PP ) được hiểu là cách sử dụng thích hợp giữa sản phẩm / thương hiệu cần quảng cáo với kênh truyền thông giải trí không nhằm mục đích chiêu thị trực tiếp đối với sản phẩm. Nói một cách dễ hiểu, PP là khi các nhà sản xuất phim đưa thương hiệu hay sản phẩm của nhà quảng cáo một cách thật khéo léo trong các bộ phim chương trình giải trí của mình. Hình thức PP phát triển thực sự vào những năm 80 với hiện tượng doanh thu của kẹo Reese’s Pieces (một loại kẹo bơ đậu phộng của Hershey) tăng 65% doanh thu khi phim ET được trình chiếu. PP được sử dụng với nhiều hình thức khác nhau và đã mang đến những ích đáng kể trong nghành quảng cáo.

 

Đầu tiên, PP có thể nhắm vào khách hàng bằng các thông điệp đã được chuẩn bị kỹ lưỡng, dễ tiếp thu bởi sản phẩm quảng cáo thường được xuất hiện trong những tình huống hợp lý trong phim, không gượng ép như các mẫu quảng cáo. Khi Richard Gere cầm một hộp nước trái cây của Tropicana lên uống trong phim, người ta sẽ không nghĩ rằng hộp nước trái cây của Tropicana xuất hiện vào cảnh đó do người dàn dựng cố ý đặt vào mà chỉ đơn thuần do Richard thích uống loại nước trái cây đó. Vì thế, nếu bạn thích Richard thì bạn cũng sẽ có xu hướng thích loại nước uống trái cây ấy.

 

Tiếp theo, PP có thể “trói buộc” người xem ( captive audience ) hơn là những mẫu quảng cáo thông thường, bởi khán giả sẽ không vì thấy Carlsberg xuất hiện trong phim Spiderman mà họ bỏ đi không xem tiếp bộ phim, nhưng ngược lại, khi họ đang xem phim và xuất hiện mẫu quảng cáo (TV ) của Carlsberg thì họ sẽ dẵn sàng chuyển sang những kênh khác, đó là một phản ứng thường thấy của người xem truyền hình.

 

PP còn được dùng để cũng cố thêm lòng tin đối với những người tiêu dùng đang sử dụng sản phẩm (increase brand loyalty), đồng thời làm giảm những cảm nhận không đúng về sản phẩm. Người sử dụng sản phẩm sẽ thấy gần gũi hơn khi thấy Will Smith cũng sử dụng mắt kính Ray – Ban trong một bộ phim mà mình đang xem – Men In Black.

 

Bên cạnh đó, PP cho phép người quảng cáo gắn sản phẩm / thương hiệu của mình với một phong cách như mong muốn ( appeare en vogue ). BMW Z3 gắn với thương hiệu James Bond trong Golden Eye cho ra hình ảnh của một loại xe hơi cao cấp, hiện đại. Từ đó tạo cho người xem cảm giác “sành điệu” khi cũng dùng các sản phẩm đã được sử dụng bởi những người nổi tiếng (implied celebrity endorsement)

 

Ngoài ra, PP làm tăng tinh thần của nhân viên trực tiếp sản xuất sản phẩm (employee morale), một khi nhân viên thấy được sản phẩm mà họ đã trực tiếp sản xuất xuất hiện trên chương trình truyền hình hay trong một bộ phim, họ sẽ cảm thấy vui vẻ và tăng tinh thần hơn.

 

Thêm vào đó, PP được xem là không tốn quá nhiều chi phí bởi trước hết PP có vòng đời tương đối dài khi gắn liền với một bộ phim hay một chương trình truyền hình và số lượng người xem sẽ tăng thông qua các kênh truyền hình cáp, bán băng video hoặc cho thuê băng đĩa… Thứ hai chi phí sử dụng PP thấp do người quảng cáo chỉ phải trả một khoảng phí cho số lần xuất hiện chứ không phải tốn tiền cho sáng tạo ý tưởng cho mẫu quảng cáo.

 

Điểm qua một số lợi ích của PP để thấy rằng PP đang dần trở thành một công cụ đắc lực cho các nhà Quản trị thương hiệu. Một khi ngành giải trí của nhân loại còn phát triển thì hình thức PP vẫn còn phát huy hiệu quả của nó bởi xét về phía các nhà sản xuất chương trình giải trí, họ sẽ luôn muốn sử dụng PP bởi 3 lý do sau: thứ nhất, chương trình hay bộ phim của họ sẽ trở nên thật hơn; thứ hai, giảm chi phí; thứ ba, không phải quảng cáo không công cho bất cứ một nhãn hiệu nào cả. Vì thế, khi PP được chấp nhận như một phần của các công cụ quảng cáo hiệu quả thì việc xác định cung cầu của PP sẽ giúp Nhà Quản trị thương hiệu có những quyết định chính xác và giá trị hơn.

 

Việt Nga

 

Trang chủ
Lưu trang này
In bài này
Gởi cho bạn bài này
Phản hồi bài viết này
Quay lại
CyVee Bookmark
Đóng  
 Các tin khác
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
  
  Tài trợ bởi
  Các chủ đề liên quan
Truyền thống là một yếu tố quan trọng của các nền văn hoá. Trong thế giới hiện đại ngày nay, người ta thường có khuynh hướng quên đi một truyền thống nào đó và những lợi ích do truyền thống mang lại không phải lúc nào cũng được thể hiện rõ ràng. Thế nhưng, theo các chuyên gia về tiếp thị, truyền thống vẫn là một công cụ đắc lực trong việc xây dựng nhãn hiệu…
Trong bán hàng, mọi người đều phải có những kỹ năng để làm việc được hiệu quả. Nhưng nếu phải khảo sát hàng trăm cửa hàng và làm việc với hàng nghìn nhân viên bán hàng khác nhau, bạn sẽ nhận ra rằng hầu hết họ đều không biết cách đàm phán với khách hàng một cách tốt nhất.
Nghiên cứu của Tổ chức xã hội truyền thông mới của Mỹ cuối năm 2007 cho thấy, hầu hết các doanh nghiệp đều dành khoảng 2,5% ngân sách công ty để tiếp thị  tên tuổi của mình trên blog. Tổ chức này cho rẳng, đến năm 2012, blog sẽ là ưu tiên số một.
Xúc tiến thương mại trong trò chơi điện tử đang tỏ ra có sức hấp dẫn lớn và rất hiệu quả. Các nghiên cứu cho thấy, ngay sau khi chơi, game thủ nhớ được 30% quảng cáo trong game và 5 tháng sau họ vẫn nhớ được tới 15%, một con số trong mơ với các nhà quảng cáo.
Tác giả  : Tom Peters
Số trang  : 224 trang
Năm xuất bản  : 21.9.1999
Nhà xuất bản : Knopf
Amazon bình chọn
Ngày 27-4 tại Hà Nội, Unilever đã kỷ niệm mười năm ngày chính thức có mặt tại Việt Nam và đón nhận Huân chương Lao động hạng nhì do Nhà nước Việt Nam trao tặng. Ông Michel Dallemagne, Chủ tịch Unilever Việt Nam, nói: “Mười năm qua, chúng tôi luôn thực hiện đúng phương châm “Nghĩ theo cách nghĩ của người Việt Nam”, và đó chính là bí quyết thành công của Unilever tại thị trường Việt Nam…
Mỗi năm người Việt Nam bỏ ra gần 35 tỷ đồng mua các loại mỹ phẩm nhưng khoảng 60-70% chi phí này lại rơi vào túi các hãng sản xuất mỹ phẩm nước ngoài, trong đó Hàn Quốc 34%, Nhật 20%, riêng công ty Unilever chiếm 19% còn lại mỹ phẩm Việt Nam khiêm tốn với thị phần là 27%.
Tác giả  : Simon Anholt
Số trang  : 179 trang
Năm xuất bản  : 2.2003
Nhà xuất bản : Butterworth-Heinemann
Trong lĩnh vực bán lẻ, các doanh nghiệp phải đối mặt thường xuyên với việc tìm khách hàng mới, nên đều bị ám ảnh với việc làm thế nào để các nỗ lực quảng cáo, tiếp thị và định giá có thể thu hút được các khách hàng mới. Những nỗ lực này tuy cần thiết nhưng đồng thời có thể lấy đi nhiều nguồn lực hữu hạn của các doanh nghiệp nếu không chọn đúng đối tượng khách hàng để tập trung các hoạt động quảng cáo, tiếp thị thích hợp.
Vẫn được đánh giá là phương tiện giao thông quan trọng trong vòng mươi năm nữa, nhưng dường như lối đi cho các doanh nghiệp (DN) xe máy trong nước trong việc tự khẳng định mình còn rất gập ghềnh.
Trang chủ   |   Liên hệ   
© Copyright 2004 - LANTABRAND - Total Brand Solution™
Giấy phép ICP của Bộ Văn hóa Thông tin số 150/GP-BC.
Vui lòng ghi rõ nguồn lantabrand.com khi bạn phát hành lại thông tin từ website này