Chuyên mục
  Thông tin thương hiệu
  Kiến thức thương hiệu
  Tình huống thương hiệu
  Download chuyên đề
  Giới thiệu Agency, Freelance
  Thiết kế & Thương hiệu
  Quảng cáo & Thương hiệu
  Thương hiệu trong phim
  Thương hiệu hàng đầu
  Sách thương hiệu
  Thuật ngữ thương hiệu
  Nhượng quyền thương hiệu
  Đo lường thương hiệu
  Tìm kiếm
 
  Trang chủ  >  Thông tin thương hiệu >
Sức mạnh giá của đồ hiệu
Cập nhật 17-8-2012 17:43

Hơn 1.000 Euro một chiếc áo phông rách hiệu Balmain, 120.000 Euro một đôi giày hở gót gắn kim cương hiệu House of Borgezie… Có vẻ như các tín đồ hàng hiệu không ngại trả bất kỳ một mức giá nào để sở hữu sản phẩm của các nhà mốt danh tiếng.



“Người tiêu dùng hàng xa xỉ thường có xu hướng quên đi vấn đề về giá. Họ muốn thứ tốt nhất. Họ muốn thứ mà họ muốn”, ông Michel Chevalier, tác giả cuốn sách Luxury Brand Management (tạm dịch: Quản trị thương hiệu cao cấp), nhận xét.

 

Đó chính là lý do vì sao mà các thương hiệu đắt nhất, được gọi là xa xỉ tuyệt đối, như Hermes Van Cleef & Arpels, hay Bottega Veneta, đều đang tăng trưởng với tốc độ mạnh mẽ nhờ nhu cầu của các thị trường mới nổi, nhất là Trung Quốc, như thể cuộc khủng hoảng tài chính chưa từng quét qua thế giới.

 

Theo nghiên cứu của hãng Bain, thị trường hàng xa xỉ tuyệt đối đang tăng trưởng với tốc độ bình quân 6% mỗi năm từ năm 2000 đến nay, vượt mức tăng của thị trường hàng hiệu nói chung. Phân khúc này hiện chiếm 40 tỷ Euro trong thị trường hàng hiệu nói chung trị giá 191 tỷ Euro, đồng thời được dự báo sẽ còn tăng trưởng mạnh hơn các phân khúc khác cho tới hết năm 2014.

 

“Nguồn cung của những sản phẩm này là hạn chế. Đó là cơ hội tuyệt vời để đẩy giá lên”, nhà phân tích hàng cao cấp Thomas Chauvet của Citigroup nhận định về hàng xa xỉ tuyệt đối, chẳng hạn rượu cognac và champagne sản xuất từ một khu vực nhỏ hẹp của nước Pháp.

 

Các nhà phân tích cho biết, giá cả trên thị trường đồ hiệu đã tăng liên tục từ năm 2001-2011 và sẽ còn tăng mạnh hơn giá cả nói chung. Chuyên gia Thomas Mesmin tại công ty Cheuvreux ước tính, giá cả các sản phẩm thời trang và đồ da hiệu đã tăng 62% trong khoảng thời gian trên, còn giá các mặt hàng đồng hồ và nữ trang tăng 78%. Trong khi đó, trong 11 năm này, lạm phát ở khu vực Eurozone chỉ đạt mức 26%.

 

Phần lớn mức tăng của giá đồ hiệu diễn ra trước năm 2008. Tuy nhiên, kể từ nửa sau của năm 2010, giá cả các mặt hàng xa xỉ lại tăng tốc trở lại. Cheuvreux ước tính, giá đồ hiệu nói chung đã tăng 7% trong năm 2011. Giá các mặt hàng rượu champagne, đồ da, nữ trang… đặc biệt tăng mạnh trong 2 năm trở lại đây.

 

Chẳng hạn, một chiếc đồng hồ hiệu Hermes Cape Cod có giá 1.300 Euro vào năm 2009 hiện được bán với giá 2.200 USD. Một chai rượu Moët & Chandon Imperial Rosé có giá 60 USD vào năm 2010 hiện có giá 75,99 USD.

 

LVMH, hãng đồ hiệu lớn nhất thế giới, tỏ thái độ đặc biệt kiên quyết khi tăng giá các sản phẩm Louis Vuitton và rượu champagne tới 15% trong năm 2011. Chauvet cho rằng, việc tăng giá có hệ thống ở LVMH đóng góp 1/3 tổng tăng trưởng doanh thu của hãng này.

 

Một nhà phân tích tiết lộ rằng, năm nào LVMH cũng băn khoăn về mức giá tối thiểu đối với những chiếc túi xách Louis Vuitton, lo rằng giá cao quá thì sẽ mất khách, mà giá thấp thì bằng “bán rẻ” thương hiệu.

 

“Mức giá tối thiểu của Louis Vuitton luôn được cân nhắc hết sức kỹ lưỡng. Họ nói với tôi rằng, đó là quyết định quan trọng nhất mà họ đưa ra hàng năm”, nhà phân tích này cho biết.

 

Chiến lược giá này trái ngược với những gì đang diễn ra ở lĩnh vực thời trang bình dân, nơi những thương hiệu như Gap đưa ra những mức giảm giá lớn để hấp dẫn người tiêu dùng và giữ tăng trưởng doanh thu.

 

Giá hàng xa xỉ còn có thể tăng thêm nữa nếu giá các loại da, trong đó có da cá sấu, tăng thêm trong năm nay do ảnh hưởng của thời tiết khô hạn ở vùng Midwest của Mỹ, giống như tác động của thời tiết bất lợi ở Australia vào năm ngoái.

 

Trên thực tế, biến động giá hàng hóa cơ bản đầu vào chỉ có tác động nhỏ tới giá đồ hiệu. Những thương hiệu đình đám nhất như Louis Vuitton, các hãng rượu champagne hàng đầu, Hermes, Chanel… đều đang có mức tỷ suất lợi nhuận hoạt động 40-50% và lợi nhuận gộp trên 60%. Bởi vậy, họ sẵn sàng có thể chấp nhận mức tăng giá đầu vào nếu họ muốn.

 

Tỷ suất lợi nhuận sẽ càng tăng thêm nếu các hãng đồ hiệu rút sản phẩm của họ ra khỏi các siêu thị và mở các cửa hiệu riêng, hưởng tỷ suất lợi nhuận bán lẻ có thể cao gấp 2,5 lần so với giá bán buôn sản phẩm. Khi đó, các hãng đồ hiệu cũng có thể bảo vệ thương hiệu của mình khỏi những đợt giảm giá thường xuyên diễn ra.

 

“Chẳng ai muốn mua một thứ gì đó độc và đắt, để rồi 3 tháng sau đó lại thấy mặt hàng đó bị giảm giá còn có một nửa. Điều này làm giảm uy tín của một thương hiệu. Mà sự sang trọng có liên quan nhiều tới quan niệm”, ông Fflur Roberts, chuyên gia về thị trường hàng hiệu của hãng nghiên cứu Euromonitor, nhận xét.

 

Vấn đề mà các nhà bán lẻ đồ hiệu đang phải đối mặt lúc này là nên tăng giá với tần suất như thế nào, nhất là ở Trung Quốc, nơi giá hàng hiệu đã cao gấp rưỡi so với ở châu Âu do phải gánh nhiều loại thuế. Khoảng cách giá như vậy là không bền vững và có thể khiến người tiêu dùng Trung Quốc cảm thấy là họ đang bị “bóc lột” ngay trên thị trường của chính mình. Hiện du khách Trung Quốc đã đóng góp 1/3 doanh số của các cửa hàng đồ hiệu tại Pháp.

 

Câu trả lời có vẻ như là các hãng đồ hiệu sẽ không tăng giá ở thị trường nước ngoài mà sẽ tăng giá ở thị trường trong nước. Theo chuyên gia Chauvet, LVMH có thể tăng giá 10% tại thị trường châu Âu trong mùa thu này, để tạo ra sự cân bằng hơn với giá tại thị trường Trung Quốc.

 

Theo vneconomy

Trang chủ
Lưu trang này
In bài này
Gởi cho bạn bài này
Phản hồi bài viết này
Quay lại
CyVee Bookmark
 Các tin khác
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
  
  Tài trợ bởi
  Các chủ đề liên quan
Thuật ngữ marketing dịch ra tiếng Việt có nghĩa là tiếp thị hay tiếp cận thị trường. Tuy nhiên, thuật ngữ bằng tiếng Việt không thể hiện đầy đủ ý nghĩa nên việc sử dụng nguyên từ gốc “marketing” trở nên tương đối phổ biến. Theo nghĩa ban đầu, vào những năm 1920, marketing nhấn mạnh vào khái niệm mua-bán. Một nhà sản xuất khi làm ra sản phẩm, tất nhiên họ muốn bán được chúng. Vai trò của marketing là tính toán như thế nào để bán được sản phẩm đó và nó còn được xem như một công cụ đại diện cho tiếng nói của khách hàng.
Năm 2005 sắp qua được các chuyên gia viễn thông đánh giá là năm bùng nổ của thị trường thông tin di động Việt Nam, cả về sự gia tăng số lượng thuê bao lẫn số lượng của các nhà cung cấp dịch vụ. 
Ngày 19.12.2008, Nokia đã đưa Twilight (chạng vạng) – bộ phim gây xôn xao trong giới trẻ lên một trang web trên điện thoại di động bằng công nghệ wap. Trang web này có đầy đủ thông tin, hình ảnh giới thiệu về bộ phim kèm theo nhiều hoạt động khác như phỏng vấn tác giả kịch bản, sưu tầm hình ảnh các nhân vật yêu thích trong bộ phim, tải ảnh, phim về điện thoại… Chỉ trong vòng chưa đầy hai tuần (từ 19.12 đến 31.12.2008), đã có 1.989 lượt truy cập tại Việt Nam. Điện thoại di động đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của giới trẻ và là mãnh đất màu mỡ cho các hoạt động marketing.
Không chỉ đem lại khả năng cắt giảm chi phí – bao gồm các chi phí nghiên cứu và phát triển – hình thức phối hợp giữa các thương hiệu còn giúp cả hai thương hiệu có thể chuyển giao những thế mạnh cho nhau ví dụ: hình tượng, tầm cỡ hay sự ủng hộ của khách hàng.
Chúng tôi chọn những họat động từ thiện để nói lên chúng tôi là ai. Cho dù đó là những họat động có chủ ý hay không, thì chúng tôi luôn biết cách chọn những họat động từ thiện nào thích hợp với tổ chức của mình nhất, giống như cái cách mà các bạn vẫn thường làm với khách hàng mục tiêu của mình vậy….
Email đầu tiên gửi đến khách hàng (welcome email) được xem là một trong những vũ khí quan trọng nhất của công ty khi sử dụng chiến lược email marketing. Tuy nhiên không hẳn tất cả các marketer đều biết cách khai hỏa chúng.
Với một loạt các sản phẩm từ trà cho đến kem, dầu gội đầu, kem đánh răng, Unilever có trong tay những nhãn hiệu nổi tiếng nhất thế giới: Lipton, Hellman’s, Ragu, Rama, Magnum, Bertolli, Knorr, Bird’Eyes, Slim-Fast, Dove, Pond, Signal, Close-up, Surf và Omo, và đó cũng chỉ là một con số nhỏ trong tổng số các nhãn hiệu của Tập đoàn. 
 

Khái niệm xây dựng thương hiệu theo ý khách hàng – một khái niệm khách hàng giúp chúng ta tạo nên – không có gì là mới mẻ. Những website “của tôi” được thiết kế vì khách hàng đã xuất hiện được một thời gian. iTunes của Apple có thể dễ dàng được gọi là “My Tunes” – nó cho khách hàng một khả năng không giới hạn trong việc tạo ra các danh sách các bài hát của riêng mình, My Twinn cho phép tạo ra những con búp bê phi thường giống như những đứa bé từ ảnh của chúng, giống đến từng chi tiết.
Nhân viên của bạn là thương hiệu của bạn, thương hiệu của bạn thể hiện văn hóa của bạn, và khách hàng của bạn cuối cùng sẽ là người tiếp nhận cái văn hóa đó. Hay nói cách khác, nếu thương hiệu của bạn hứa hẹn điều gì với khách hàng thì bạn nên thực hiện cho được lời hứa đó.
Theo lời Paul Norman, giám đốc của Normen, một công ty chuyên về đặt tên (naming company) ở Châu Âu thì “Trên thực tế không hề tồn tại một kiểu mẫu nào cho việc đặt tên. Tuy nhiên những yếu tố sau có thể dẫn đến thành công: khác biệt, dễ đọc, dễ nhớ và đủ linh hoạt để có thể được sử dụng khi công ty mở rộng hoạt động kinh doanh.
Trong cuộc chạy đua để có mặt trên Internet thông qua website, rất nhiều doanh nghiệp chỉ thuê thiết kế website giống như thuê thiết kế... brochure (ấn bản tự giới thiệu) và sau đó giao luôn cho đối tác này thực hiện việc duy trì website, cập nhật thông tin. Cũng vì vậy, dù chi khá bộn nhưng các website của doanh nghiệp vẫn thiếu thân thiện, không thoả mãn nhu cầu của người xem...
Khi người ta nghĩ đến một thương hiệu nào đó, hình ảnh đầu tiên thường chính là logo (biểu trưng).
Trang chủ   |   Liên hệ   
© Copyright 2004 - LANTABRAND - Total Brand Solution™
Giấy phép ICP của Bộ Văn hóa Thông tin số 150/GP-BC.
Vui lòng ghi rõ nguồn lantabrand.com khi bạn phát hành lại thông tin từ website này