
Mười năm qua, doanh thu ngành quảng cáo tăng đến 16 lần, từ khoảng 300 tỉ đồng vào năm 1994 đã lên đến 5.000 tỉ đồng vào năm 2004, một mức tăng hiếm có. Tuy nhiên, so với nhiều nước khác, doanh thu quảng cáo tính theo đầu người ở Việt Nam năm 2004 mới chỉ có 4 đô-la Mỹ, một mức rất thấp.
Đỗ Gia Bính
Phó chủ tịch thường trực Hiệp hội Quảng cáo Việt Nam
Quảng cáo được khuyến khích hay hạn chế?
Pháp lệnh Quảng cáo do Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 16-11-2001 ghi rõ Nhà nước tạo điều kiện để người kinh doanh dịch vụ quảng cáo phát triển đa dạng các loại hình quảng cáo, nâng cao chất lượng quảng cáo, góp phần phát triển kinh tế - xã hội.
Giấy trắng, mực đen của cơ quan lập pháp thật rõ ràng. Song, các văn bản của cơ quan hành pháp lại không hề khuyến khích. Nghị định về thuế thu nhập doanh nghiệp khống chế mức chi phí quảng cáo và tiếp thị không quá 10% chi phí hợp lệ. Mức khống chế này đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa không đủ chi phí để đăng một mẫu quảng cáo 30 giây trên Đài Truyền hình thành phố dù với tần suất rất thấp. Mức chi về quảng cáo đã bị khống chế nhưng hình như các nhà quản lý vẫn chưa yên tâm. Nghị định về thực hiện Pháp lệnh Quảng cáo còn quy định: báo in không được phép đăng quảng cáo quá 10% diện tích. Báo nói, báo hình không được phát sóng quá 5% thời lượng. Các quy định này đã "khóa đầu", "khóa đuôi" cẩn thận như vậy, làm thế nào ngành quảng cáo Việt Nam có thể phát triển?
Mở cửa hay bảo hộ?
Pháp lệnh Quảng cáo cũng ghi rõ "Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người quảng cáo, người kinh doanh dịch vụ quảng cáo, người phát hành quảng cáo và người tiêu dùng".
Để thực hiện chủ trương đó, Chính phủ đã định ra lộ trình bảy năm (tính từ năm 2001) cho việc hội nhập. Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ vừa có hiệu lực chưa đầy năm, một công ty quảng cáo 100% vốn nước ngoài đã được cấp phép thành lập. Trước và sau thời điểm này (2002) một số báo, đài trong nước cũng đã ký hợp đồng trực tiếp với khách hàng nước ngoài. Trong khi đó, những việc cần làm để chuẩn bị cho hội nhập thì chưa ai làm. Trừ một vài doanh nghiệp quảng cáo đã sẵn nội lực, chưa công ty nào tính đến chiến lược và triển khai các giải pháp để sẵn sàng cạnh tranh bình đẳng với các công ty quảng cáo nước ngoài. Nhà nước cũng chưa có một chương trình hỗ trợ nào để giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành quảng cáo. Về đào tạo, cả nước mới chỉ có một lớp chuyên quảng cáo của trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Một vài trường khác có khoa marketing mỗi khóa cũng chỉ đào tạo vài trăm sinh viên. Công ty Marcom Việt Nam và một số đơn vị khác mỗi năm cũng chỉ góp sức đào tạo vài trăm nhân viên nghiệp vụ sơ cấp. Một lực lượng quá nhỏ bé như vậy làm sao đáp ứng nhu cầu tư vấn hoạch định chiến lược, xây dựng thương hiệu, thực hiện chương trình quảng cáo cho hàng trăm ngàn doanh nghiệp trong cả nước. Đấy là chưa nói đến việc gần 2.000 doanh nghiệp quảng cáo Việt Nam nhìn chung chưa đủ nội lực để tự đổi mới và nâng cao năng lực cạnh tranh. Hàng loạt vấn đề khác như khả năng tiếp cận thông tin trong nước và thế giới, khả năng sáng tạo, khả năng áp dụng khoa học công nghệ... đều chưa được đặt ra. Doanh nghiệp lúng túng, Hiệp hội Quảng cáo Việt Nam còn lúng túng hơn, cơ quan quản lý nhà nước thì chưa thể "với" tới những vấn đề cụ thể ấy vì vấn đề hoạch định chiến lược phát triển cho toàn ngành quảng cáo Việt Nam cũng chỉ mới được "xới" lên mà chưa được giải quyết.
Chỉ số tăng trưởng của chi phí quảng cáo
|
Năm |
Tổng chi phí quảng cáo
(tỉ đồng) |
Mức tăng trưởng hàng năm so với năm trước (%) |
|
2000 |
1.626 |
100 |
|
2001 |
2.328 |
143 |
|
2002 |
2.859 |
122,8 |
|
2003 |
3.830 |
133,9 |
|
2004 |
5.000 |
130,5 |
Nguồn: Tác giả ước tính, bằng 125% số liệu của TNS công bố trên Niên giám Quảng cáo hàng năm do Hiệp hội Quảng cáo Việt Nam xuất bản.
Theo TBKTSG