
Ta biết rằng hệ 3-5-8 là hệ đang hiện hành tại các đại học Mỹ, Ấn Độ, Nhật, Úc và nhiều nước lớn khác. Như vậy có nghĩa là gần như sẽ đi đến một nền đại học thống nhất trên toàn thế giới.
* Thưa ông, hiện nay, với chủ trương xã hội hóa giáo dục, Nhà nước đã cho các trường dân lập hay vốn nước ngoài thành lập ngày càng nhiều dẫn đến sự cạnh tranh khá gay gắt. Trong bối cảnh đó, các trường đã bắt tay tự xây dựng thương hiệu cho mình. Xin cho biết ý kiến ông về điều này?
Công nhận tính thị trường của nền giáo dục Việt Nam hiện nay là một tiến bộ. Đã là thị trường thì có cạnh tranh. Và theo quy luật cạnh tranh, sinh tồn xây dựng thương hiệu là điều tất yếu. Vấn đề là thị trường phải như thế nào…
* Vậy thì theo ông, làm sao để có một thị trường giáo dục công bằng, lành mạnh?
Trước hết phải coi tư thục và công lập là con một nhà, không có con cưng mà cũng chẳng có con ghẻ. Muốn được vậy, điều quan trọng là phải bình đẳng về phân chia phúc lợi xã hội toàn dân. Đối với các trường đại học, cần công nhận quyền tự quản, bao gồm quyền tuyển sinh, cấp bằng, quản lý và bổ nhiệm nhân sự, tổ chức việc giảng dạy, nghiên cứu khoa học…
Bộ chỉ quản lý khung:học trình quốc gia (trường nào cũng phải tuân theo chương trình học do bộ đề ra), chế độ (mức lương tôi thiếu, chức danh, học hàm…), thanh tra giám sát, hợp tác quốc tế… Lúc ấy, cạnh tranh sẽ theo hướng tích cực: giành thầy giỏi, trò giỏi. Thương hiệu thành công hay không là từ đây.
Để xây dựng thương hiệu, ngoài chất lượng quản lý, chất lượng giảng dạy, môi trường học tập, còn phải có một chiến lược marketing, trong đó có việc xây dựng và quản bá thương hiệu. Việc này liệu có dẫn tới nguy cơ thương mại hóa giáo dục, điều mà chúng ta nghe nói tới gần đây?
Những tiêu cực hiện nay ở Việt Nam, theo tôi, một phần do ta chưa kịp xây dựng một khung pháp lý cần thiết. Mặt khác, do ta cho phép ra đời rất nhỏ giọt các trường dân lập nên dù vô tình hay cố ý, ta cũng đã duy trì cơ chế độc quyền, mất cân bằng cung – cầu.
Hiện nay, trước mắt nên bổ sung bộ luật doanh nghiệp, cho phép ra đời những tổ chức dân sự, tổ chức xã hội không có mục đích kiếm tiền (như các hội ái hữu, hữu nghị, cựu sinh viên, khuyến học…). Các đại học tư thục cũng thuộc loại này. Chú ý không nhằm kiếm tiền không có nghĩa là bất vụ lợi. Các đại học tư thục có phúc lợi nhưng không được dư tiền, chia lãi mỗi năm ngân sách chi thu phải cân bằng. Phần lãi của trường phải được đầu tư cho nâng cao chất lượng đào tạo, tăng cường quy mô, phát triển ngành nghề. Việc xây dựng thương hiệu cho một đại học phức tạp lắm.
Tôi có một ví dụ mà tôi tâm đắc, chuyện về một đại học có thương hiệu nổi tiếng: đại học Stanford, tiểu bang California, Hoa Kỳ. Trường này được gia đình thành lập cách đây 113 năm. Jane và Leland Stanford là một gia đình doanh nhân giàu có.
Người chồng đã là thống đốc tiểu bang – Thượng nghị sĩ. Nhưng họ bất hạnh: đứa con duy nhất của họ bị bệnh qua đời mới có 16 tuổi. Sau những tháng ngày hụt hẫng khôn nguôi, một sáng thức dậy họ quyết định:”Tuổi trẻ của tiểu bang California sẽ là những đứa con của chúng ta”. Và họ cống hiến toàn bộ tài sản của gia đình cho việc thành lập một trường đại học mới.
Đại học Stanford nay được đánh giá là một trong năm đại học uy tín nhất nước Mỹ. Ông Stanford đã có lời tuyên bố, sau này trở thành “hiến pháp” của trường như sau: ”Đại học có mục đích tạo điều kiện để sinh viên thành đạt và hữu ích cho đời, đại học phải chăm lo sức khoẻ của cộng đồng nhân danh văn minh và nhân loại, đại học phải chỉ rõ ân huệ của tự do điều tiết bởi luật pháp, đại học phải dạy dỗ lòng yêu mến và niềm kính trọng những nguyên tắc cơ bản của việc trị nước xuất phát từ những quyền bất biến, quyền được sống, quyền được hưởng hạnh phúc của con người”. Sau khi Leland mất đi, có lúc tài sản của gia đình Stanford bị phong tỏa, đại học đứng bên bờ vực và Jane đã tìm cách duy trì hoạt động của trường bằng mọi giá.
Hai năm sau nhờ sự can thiệp của Tổng thống Mỹ Cleveland, Toà án tối cao Liên bang ra phán quyết huỷ bỏ án cũ, trả lại cho Jane Stanford 11 triệu đô la và nhờ vậy ĐH Stanford mới sống trở lại.
Qua sự hình thành của thương hiệu Stanford tôi muốn nhấn mạnh ý tưởng sau đây: một thương hiệu lâu bền và thành công của một đại học đòi hỏi ở thành phần sáng lập những điều kiện, tư duy đặc biệt: có tài chính ban đầu dồi dào, vững chắc, có tinh thần phục vụ cộng đồng bất vụ lợi cao, sự gắn bó tâm huyết của người sáng lập và ban quản trị, ý chí sắt đá đảm bảo chất lượng trong mọi tình huống và nhất là tinh thần trách nhiệm của nhà nước đối với giáo dục, ngay cả ở cơ sở tư nhân.
Các trường nước ngoài khi vào Việt Nam họ thực hiện rất nhiều chiến lược tiếp thị nhằm quảng bá tên tuổi của trường. Xin ông cho biết một số kinh nghiệm của trường châu Âu?
Ngân sách nhà nước rót về hàng năm tỉ lệ thuận với số sinh viên ghi danh. Trường nào kém chất lượng sẽ bị mất sinh viên và kết quả là năm sau mất tiền. Năm nào các trường cũng có chiến dịch quảng bá thu hút sinh viên. Đại học Liège mà tôi gắn bó gần 45 năm có cả một ban báo chí thông tin mà công việc chính là lo cho thương hiệu của trường.
Hiện nay trên bình diện toàn châu Âu, để bảo vệ thương hiệu của nền giáo dục, các nhà lãnh đạo giáo dục đang làm một cuộc cách mạng ngoạn mục. Với tuyên ngôn Balogna năm 1999, một cuộc cải tổ có tính đột phá được bắt đầu thực hiện từ năm 2004, theo một lộ trình thống nhất gồm các nội dung: Xây dựng một hệ thống đào tạo thống nhất, toàn 29 nước của châu Âu chỉ còn ba loại bằng cấp:
1. Tú tài + 3 là cử nhân; tú tài + 5 là thạc sĩ; tú tài + 8 là tiến sĩ
2. Áp dụng chế độ đào tạo theo tín chỉ trên toàn châu Âu
3. Công nhận bằng cấp của nhau trên toàn châu Âu
4. Liên thông giữa đào tạo nghề và đào tạo đại học
5. Củng cố việc trao đổi sinh viên, giảng viên bằng cách tăng cường học bổng và thù lao thụ giảng
6. Củng cố chế độ tự trị đại học cùng lúc với những phương thức kiểm định chặt chẽ chất lượng đại học.
(*) GS ĐH Liège, Bỉ, chủ nhiệm các chương trình Cao học Bỉ và Việt tại ĐH Bách khoa TP.HCM và Hà Nội
Theo Sài Gòn Tiếp thị