Trước áp lực từ người khổng lồ Trung Quốc, Việt Nam sẽ chọn cách nào để phát triển kinh tế? Việt Nam bị đẩy ra ngoài lề trong thế phân công lao động mới được hình thành trong khu vực, đó chỉ là nguy cơ hay đã trở thành hiện thực?Tiến trình cải cách kinh tế ở Việt Nam thường được so sánh với kinh nghiệm của Trung Quốc. Thí dụ tại Diễn đàn cải cách kinh tế Việt Nam-Trung Quốc (ngày 13 và 14/5/2004 tại Hà Nội), các bài tham luận của các chuyên gia kinh tế phần lớn trình bày những tương đồng trong quá trình cải cách ở hai nước và những tồn tại, thử thách trong tương lai.
Cả phía Trung Quốc (có lẽ vì lịch sự) lẫn phía Việt Nam (có lẽ vì hài lòng với những tiến bộ đã đạt được sau thời gian đổi mới) đều không nói tới khả năng Việt Nam có thể bị đẩy ra ngoài lề trong sự phân công lao động khu vực đang được hình thành dựa trên cơ sở Trung Quốc đã trở thành trung tâm sản xuất và cung cấp hàng công nghiệp tiêu dùng cho toàn thế giới.
Sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Trung Quốc thu hút lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) rất lớn, tăng xuất khẩu hàng công nghiệp và nhập khẩu các loại hàng đầu vào cũng như nguyên nhiên liệu. Trung Quốc như thế đã trở thành một đầu tàu cho nền kinh tế thế giới. Các nước trên thế giới cũng như ở châu Á đã phải tìm cách thích ứng với sự phát triển của Trung Quốc.
Có ba hình thức chính cho việc thích ứng này. Thứ nhất, đầu tư FDI để làm chủ cơ sở sản xuất ở Trung Quốc và thu lợi nhuận. Thứ hai, xuất khẩu máy móc, thiết bị hiện đại và các loại hàng đầu vào để tham gia vào tiến trình sản xuất và xuất khẩu của Trung Quốc. Cuối cùng, xuất khẩu nguyên nhiên liệu, nông phẩm và thực phẩm sang Trung Quốc chủ yếu để phục vụ nhu cầu trong nước.
Nhiều nước trong khu vực như Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Malaysia, Thái Lan đã "hội nhập" vào sự phát triển kinh tế Trung Quốc qua hai hình thức đầu. Vì thế sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của các nước này. Việt Nam, ngược lại, giao lưu kinh tế với Trung Quốc chủ yếu qua hình thức thứ ba nhưng lại chịu sự cạnh tranh của Trung Quốc trong lĩnh vực thu hút FDI, xuất khẩu hàng chế biến đơn giản như hàng dệt may, da giày và cả việc mua nguyên nhiên liệu cần dùng trong sản xuất.
Như thế, Trung Quốc càng phát triển thì phần lợi cho Việt Nam tuy có, nhưng khó khăn có thể nhiều hơn.
Quan hệ kinh tế Việt Nam - Trung Quốc
Do thương mại vùng biên giới Việt-Trung tăng nhanh, quan hệ thương mại giữa hai nước đã tăng trưởng khá lớn trong thời gian vừa qua. Hiện nay, Trung Quốc là nước bạn hàng lớn thứ ba của Việt Nam, sau Mỹ và Nhật. Hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc chủ yếu nằm trong nhóm dầu thô và than đá (chiếm tỷ trọng 20% trong kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, khoảng 20 tỉ đô-la Mỹ trong năm 2003) và nhóm hải sản, lương thực như gạo, cà phê và trà (chiếm tỷ trọng 20%).
Tuy kim ngạch xuất khẩu sang Trung Quốc tăng trưởng trong thời gian qua, các mặt hàng xuất sang Trung Quốc không phải là các loại hàng xuất khẩu có tính chiến lược, có thể hỗ trợ tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa của Việt Nam. Trong trường hợp Indonesia, nguyên nhiên liệu và nông phẩm là các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực, nên bám được vào thị trường Trung Quốc là rất có lợi cho Indonesia.
Nhóm hàng chế tạo như dệt may, giày dép, đồ da, hàng điện tử và máy vi tính (trong năm 2003 xuất được 700 triệu đô-la Mỹ phần cứng, và 30 triệu đô-la Mỹ gia công phần mềm), dây và cáp điện, đồ nhựa và giấy... hiện là những mặt hàng "chiến lược" được Việt Nam sử dụng để thúc đẩy tăng xuất khẩu và nâng cao tỷ trọng hàng chế tạo trong xuất khẩu (hiện nay gần 40%).
Trong nhóm hàng này thì Trung Quốc chẳng những không phải là người tiêu thụ lớn mà lại là đối thủ cạnh tranh đáng gờm, không những ở các nước thứ ba mà còn ngay trong thị trường nội địa của Việt Nam.
Tương tự như Trung Quốc, Việt Nam cũng dựa vào doanh nghiệp FDI để phát triển xuất khẩu. Trong sáu tháng đầu năm 2004, các doanh nghiệp FDI chiếm 6,5 tỉ đô-la Mỹ, trong khi các doanh nghiệp trong nước chiếm 5,4 tỉ đô-la Mỹ trong tổng kim ngạch xuất khẩu.
Việt Nam hiện còn trong giai đoạn gia công những mặt hàng chế tạo đơn giản như dệt may và da giày (Việt Nam đứng hàng thứ tư trên thế giới trong lĩnh vực hàng giày dép và đồ da). Hiện nay, đây là hai mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, có kim ngạch lớn thứ hai (3,6 tỉ đô-la Mỹ) và thứ ba (2,2 tỉ đô-la Mỹ) trong tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2003 (dầu thô có kim ngạch lớn nhất - 3,8 tỉ đô-la Mỹ).
Tình trạng gia công ở Việt Nam được thể hiện ở chỗ xuất khẩu phụ thuộc rất nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu - các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI đều nhập siêu, khoảng 6,4 tỉ và 2,5 tỉ đô-la Mỹ trong năm 2003. Cụ thể, trong lĩnh vực hàng dệt may và giày dép, tỷ lệ hàng đầu vào được nhập khẩu trên giá trị hàng xuất khẩu rất cao. Trong sáu tháng đầu năm 2004, Việt Nam xuất được 3,3 tỉ đô-la Mỹ nhưng phải nhập phụ liệu cho giày dép và dệt may, vải, sợi dệt và bông vải lên đến 2,6 tỉ đô-la Mỹ.
Hàng của Việt Nam cạnh tranh chủ yếu trên cơ sở giá rẻ, chứ xét về mặt chất lượng, mẫu mã, mức tin cậy trong việc cung cấp hàng và khả năng tiếp thị thì còn yếu so với hàng Trung Quốc. Ngay cả lợi thế giá rẻ cũng khó duy trì được lâu trong khi năng suất lao động ở Trung Quốc cao hơn Việt Nam - khoảng 20% trong lĩnh vực dệt may. Việt Nam cũng chưa có khả năng tung thương hiệu riêng của mình ra thị trường thế giới - thể hiện tình trạng "tụt hậu" của Việt Nam so với Trung Quốc.
Việc Trung Quốc đã là thành viên WTO trong khi Việt Nam vẫn chưa được vào cũng đang trở thành sức ép cạnh tranh có lợi cho Trung Quốc - đặc biệt là trong lĩnh vực dệt may. Trong năm 2005, giữa các nước thành viên WTO sẽ bãi bỏ hạn ngạch hàng dệt may, tạo điều kiện cho Trung Quốc tăng thị phần của mình trên thị trường thế giới- ước tính từ 16% hiện nay lên đến 50% trong vòng năm năm4. Trong khi đó Việt Nam vẫn còn bị chi phối bởi hạn ngạch có tính chất hạn chế sự phát triển, nhất là từ phía Mỹ, và tăng giá thành (vì doanh nghiệp phải mua hạn ngạch từ Chính phủ).
Nhưng khi được vào WTO và không còn hạn ngạch nữa thì Việt Nam càng phải cạnh tranh giành thị trường không những với Trung Quốc mà còn với các nước sản xuất khác - thí dụ như Ấn Độ ước tính sẽ tăng thị phần của mình từ 4% lên 15% trong vòng năm năm tới.
Không những chỉ cạnh tranh trong thị trường xuất khẩu sang nước thứ ba, hàng chế tạo của Trung Quốc (như hàng gia dụng, dệt may, xe gắn máy...) thỉnh thoảng cũng tràn lấn sang thị trường Việt Nam, gây khó khăn không nhỏ cho các doanh nghiệp Việt Nam. Gần đây, có một hiện tượng không lành mạnh trong quan hệ thương mại Việt-Trung. Đó là việc bán lậu xăng dầu từ Việt Nam (giá rẻ hơn ở Trung Quốc vì được bù giá) sang Trung Quốc (giá cao hơn vì tiếp cận hơn với thị trường thế giới).
Ngoài ra, vì Việt Nam cũng cần phải nhập nhiều nguyên liệu đầu vào cho sản xuất, tương tự như tình trạng ở Trung Quốc, nên khi giá các loại hàng này tăng cao vì sức cầu của Trung Quốc, thì Việt Nam cũng bị khó khăn (trong khi các nước xuất siêu các mặt hàng này thì được lợi). Trong thời gian qua, các ngành như sắt thép, xi măng, phân bón, giấy, nhựa và dệt may ở Việt Nam đã gặp nhiều khó khăn vì giá đầu vào tăng mà giá đầu ra không tăng được do sự cạnh tranh về giá của hàng Trung Quốc. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam vì thế bị giảm lợi nhuận hay thua lỗ và mất thị phần.
Trung Quốc cũng cạnh tranh ráo riết với Việt Nam và một số nước châu Á khác trong việc thu hút FDI. Trong bối cảnh thương mại quốc tế ngày càng được tự do hóa hiện nay, các công ty đa quốc gia đang thực hiện kế hoạch đầu tư FDI có trọng điểm. Để xây dựng cơ sở sản xuất và xuất khẩu, họ không cần phải đầu tư tràn lan như trước, mà chỉ tập trung rót vào một số nước có điều kiện tối ưu và đã đạt được khối lượng cần thiết (critical mass). Ngoài ra, họ sẽ đầu tư để phục vụ thị trường nội địa ở các nước có dân số khá cao và sức mua đang tăng trưởng.
Trung Quốc hội đủ cả hai điều kiện này, nên đã và sẽ tiếp tục thu hút lượng FDI lớn. Trong hơn hai thập kỷ qua, Trung Quốc đã thu hút được tổng cộng khoảng 500 tỉ đô-la Mỹ vốn FDI. Trong hai năm 2002-2003, Trung Quốc nhận được khoảng 53 tỉ đô-la Mỹ FDI mỗi năm. Lượng FDI trong sáu tháng đầu năm 2004 đã tới 34 tỉ đô-la Mỹ, tăng 12% so với cùng kỳ năm ngoái, và có triển vọng tăng nhanh hơn nữa trong tương lai khi Trung Quốc cổ phần hóa và tư nhân hóa nhiều doanh nghiệp nhà nước. Trước mắt, đó là dự án tư nhân hóa qua cách đồng niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Thượng Hải, Hồng Kông và New York của hai ngân hàng có thành tích kinh doanh tốt nhất trong số bốn ngân hàng thương mại nhà nước: Bank of China và China Construction Bank.
Trong những năm gần đây, suất lợi nhuận của các doanh nghiệp FDI ở Trung Quốc đã lên ngang hay cao hơn mức trung bình trên thế giới. Đây cũng là yếu tố quan trọng thu hút các doanh nghiệp quốc tế vào Trung Quốc.
Trong trường hợp Việt Nam, sau 15 năm mở cửa, đã thu hút được hơn 40 tỉ đô-la Mỹ vốn FDI qua gần 5.000 dự án đầu tư. Với tỷ lệ 100% so với GDP, đây là khối vốn FDI khá cao. Tuy nhiên, vì những khó khăn, phiền hà trong việc kinh doanh và xuất nhập khẩu từ Việt Nam, các công ty lớn trên thế giới dần dà có khuynh hướng không coi Việt Nam là cơ sở để sản xuất và xuất khẩu (trừ lĩnh vực dệt may và giày dép) mà đầu tư FDI chủ yếu để khai thác thị trường trong nước.
Thật ra, tính chất hướng nội đã trở thành một nét đặc trưng trong quá trình đầu tư FDI vào Việt Nam, tuy nó đi ngược lại chủ trương của Việt Nam là muốn khuyến khích đầu tư FDI hướng ngoại.
Theo TBKTSG