Chuyên mục
  Thông tin thương hiệu
  Kiến thức thương hiệu
  Tình huống thương hiệu
  Download chuyên đề
  Giới thiệu Agency, Freelance
  Thiết kế & Thương hiệu
  Quảng cáo & Thương hiệu
  Thương hiệu trong phim
  Thương hiệu hàng đầu
  Sách thương hiệu
  Thuật ngữ thương hiệu
  Mua bán nhượng quyền
  Đo lường thương hiệu
  Đo lường website
  Tìm kiếm
 
  Trang chủ  >  Thông tin thương hiệu >
Làm thương hiệu khác gì marketing?
Cập nhật 21-1-2008 14:49

"Khi nhìn thương hiệu, người tiêu dùng nghĩ đến nhiều sản phẩm khác nữa..."Những năm trở lại đây, thương hiệu luôn là một đề tài nóng hổi trong bàn tròn thảo luận kinh tế của nước ta. Sự quan tâm đã có từ lâu, nhưng ắt hẳn thương hiệu trở thành mối quan tâm thời thượng khi gạch Đồng Tâm (Long An) và gỗ Hoàng Anh (Gia Lai) bắt đầu lấn sân kinh doanh sang bóng đá, thương hiệu của hai doanh nghiệp lớn này đột nhiên tăng vọt, tạo cảm hứng cho các công ty bắt đầu quan tâm thực sự đến thương hiệu của mình.



Cách thức vận hành marketing trong quá trình lưu thông hàng hóa

 

Từ “Marketing” thì đã có từ lâu, nhưng “thương hiệu” thì chỉ mới có từ khoảng thập niên 70 của thế kỷ trước. Vậy một câu hỏi đặt ra là, thương hiệu có phải là marketing hay không?

 

Để trả lời câu hỏi này, chúng ta bắt đầu bằng định nghĩa căn bản nhất. Mục tiêu của Marketing là làm cách nào để đưa hàng hóa của mình đến tay người tiêu dùng nhanh nhất và nhiều nhất. Trong khi, mục tiêu của thương hiệu là gia tăng sự nhận biết của nhãn hiệu của mình trong tâm trí người tiêu dùng theo sự định vị của mình.

 

Ở một số công ty, bộ phận thương hiệu tách rời với bộ phận marketing. Nhưng cũng có rất nhiều công ty, với ý thức là thương hiệu và marketing đều tập trung đối tượng là người tiêu dùng nên bộ phận thương hiệu là một phần của bộ phận marketing.

 

Phòng Marketing của một công ty thường có 4 bộ phận, với 4 nhiệm vụ khác nhau:

 

- Kinh doanh: có nhiệm vụ bán hàng cho các điểm bán, mở rộng điểm bán, tăng chất lượng đơn hàng, phủ hàng...

 

- Trade Marketing (tiếp thị thương mại): có nhiệm vụ hỗ trợ bán hàng đến các điểm bán, bằng những chương trình khuyến mãi cho chủ điểm bán hay những giá trị gia tăng cho chủ điểm bán.

 

- Customer Marketing (tiếp thị tiêu dùng): có nhiệm vụ hỗ trợ bán hàng đến người tiêu dùng, giảm tồn kho tại quầy kệ điểm bán, tạo những giá trị gia tăng cho người tiêu dùng.

 

- Brand Marketing (tiếp thị nhãn hiệu): có nhiệm vụ gia tăng sự nhận biết nhãn hiệu trong tâm trí người tiêu dùng theo sự định vị của công ty.

 

Ở một số công ty nhỏ, kinh doanh thường làm luôn việc của tiếp thị thương mại, và tiếp thị tiêu dùng thường làm luôn việc của thương hiệu. Do vậy nó chỉ có 2 bộ phận dưới quyền điều khiển của ông giám đốc kinh doanh và tiếp thị.

 

Bốn bộ phận này chịu trách nhiệm tương hỗ trong quá trình lưu thông của hàng hóa. Hàng hóa được xuất ra khỏi kho, bộ phận kinh doanh chịu trách nhiệm bán hàng đến điểm bán bằng cách phủ hàng (chỉ tiêu độ phủ, chỉ tiêu số lượng trên quầy kệ...). Nếu bộ phận kinh doanh đã hoàn thành việc phủ hàng mà không gia tăng được doanh số bán, chủ điểm bán không chịu mua hàng thì đó là trách nhiệm của bộ phận tiếp thị thương mại. Tiếp thị thương mại phải ra những chương trình khuyến mãi nhằm gia tăng lợi nhuận cho điểm bán. Nếu chủ điểm bán đã chịu ôm hàng (mua hàng nhiều), mà tồn kho trên quầy kệ vẫn cao, khách hàng (người mua hàng) chưa chịu mua thì đó là trách nhiệm của bộ phận tiếp thị tiêu dùng. Nếu bộ phận tiếp thị tiêu dùng đã hoàn thành trách nhiệm gia tăng khuyến mãi cho người mua hàng mà người tiêu dùng (người sử dụng) không chịu sử dụng thì đó là lỗi của bộ phận tiếp thị nhãn hiệu (hay thương hiệu).

 

Do vậy, nếu Thương hiệu của một sản phẩm mạnh, thì thường bán hàng nhanh, và ngược lại. Nếu Thương hiệu mạnh (tạm gọi là qui trình thứ nhất), thì người sử dụng thích sử dụng sản phẩm bắt buộc người mua phải mua hàng. Người mua cũng bắt buộc phải mua sản phẩm đó, cho dù là chủ điểm bán cố gắng nài ép sang sản phẩm khác. Chủ điểm bán thấy hàng hóa trên quầy kệ của mình ra nhanh, tồn kho trên quầy kệ thấp, thì mặc nhiên là họ sẽ mua hàng cùa công ty.

 

Tuy nhiên về quy trình ngược lại (tạm gọi là qui trình thứ hai), nếu công ty không có những chương trình khuyến mãi cho chủ điểm bán, cũng như độ phủ rất thấp, thì dù thương hiệu có mạnh đi nữa thì cũng mau chóng đi vào quên lãng trong tâm trí của người tiêu dùng.

 

Các công ty thường quan tâm đến quy trình thứ nhất về lâu dài, tức là chiến lược thương hiệu. Quy trình thứ hai được sử dụng tức thời, tức là chính sách tiếp thị. Do vậy, cả 3 bộ phận trong phòng marketing phải hiểu rõ được chính sách thương hiệu của công ty qua chu kỳ sống sản phẩm.

 

Chiến lược thương hiệu

 

Chiến lược thương hiệu chính là một phần của chiến lược marketing. Muốn có một chiến lược thương hiệu, các công ty thường vạch ra cho mình một tầm nhìn thương hiệu (brand vision). Công ty phải cho ra được những dự đoán của mình về xu thế của văn hóa tiêu dùng trong ngành hàng mà mình đang kinh doanh trong vòng 5-10 hay 20 năm nữa. Qua đó, họ sẽ cho ra được chiến lược thương hiệu (brand strategy) nhằm xác định những phân khúc nào mà mình sẽ chú trọng, và thương hiệu của mình sẽ nằm ở đâu trong bản đồ thương hiệu trong ngành trong vòng 5-10 năm nữa.

 

Sau khi có được chiến lược thương hiệu, công ty mới bắt đầu có những chính sách thương hiệu trong mỗi chu kỳ sống của sản phẩm.

 

Chẳng hạn, trong thời kỳ đầu của chu kỳ sống sản phẩm, chính sách thương hiệu là tung ra nhận diện thương hiệu (brand Id) giúp cho người tiêu dùng nhận biết được thương hiệu của mình trong vô số thương hiệu trong cuộc sống. Hệ thống nhận diện thương hiệu phải đi suốt quá trình của chiến lược.

 

Khi tung sản phẩm ra thị trường thì chính sách thương hiệu sẽ là cách thức tiếp thị đến khách hàng hay chủ điểm bán như thế nào để phù hợp với tầng cấp (level) mà chiến lược thương hiệu đã chọn. Thương hiệu ở tầng cấp cao, mà cách thức tiếp thị thể hiện tầng cấp thấp thì không được.

 

Khi doanh số sản phẩm bắt đầu tăng tốc thì chính sách thương hiệu là đuổi bám các thương hiệu đang dẫn ở phía trước, bằng cách gia tăng cường độ của tiếp thị. Khi doanh số sản phẩm đã bão hòa thì chính sách thương hiệu là giữ vị thế của thương hiệu của mình, bằng cách nhắc nhở người tiêu dùng về sự tồn tại của thương hiệu... Nếu như lúc này, thương hiệu đã đạt được mục tiêu do chiến lược thương hiệu đưa ra thì các công ty thường duy trì mức hiện tại và tìm kiếm một thương hiệu mới để thay thế.

 

Theo TBKTSG Online

Trang chủ
Lưu trang này
In bài này
Gởi cho bạn bài này
Phản hồi bài viết này
Quay lại
CyVee Bookmark
Đóng  
 Các tin khác
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
  
  Tài trợ bởi
  Các chủ đề liên quan
Khi công ty thiết kế bao bì McNeil Pharmaceutials xem được chiến dịch quảng cáo của một nhà sản xuất chất kích thích giảm đau với thương hiệu Motrin – “Cho những người mẹ không coi thường cơn đau” – McNeil nhận ra rằng thiết kế của bao bì hoàn toàn không phù hợp với hình ảnh trên các vật dụng quảng cáo. Công ty thiết kế Bailey Group đã cảm nhận được cơ hội đó.
Bạn nhận được điện thoại từ một công ty tầm cỡ. Hội đồng quản trị của công ty đã quyết định thuê bạn để xây dựng chiến lược thương hiệu cho công ty. Bạn chỉ có 2 tuần để hoạch định tương lai cho thương hiệu của bạn. Hãy đưa ra những quyết định đúng nhất thì mới có cơ may thành công, còn ngược lại thì …
Buôn bán, trao đổi sản phẩm đang ngày càng khẳng định vị trí thống soái trên không gian ảo, khi mà mọi người đua nhau thiết lập các trang web thương mại điện tử và bổ sung chức năng mua sắm trực tuyến trên trang web của mình. Mặc dù mức độ cạnh tranh ngày một gia tăng, hoạt động kinh doanh trực tuyến vẫn có thể đạt được những doanh số bán hàng ấn tượng, nếu bạn biết cách xúc tiến hiệu quả. 
Ai cũng biết rằng thị trường thời trang phụ thuộc và gắn liền với thị hiếu. Mà sở thích và thị hiếu của con người lại thay đổi liên tục. Do vậy thế giới thời trang cũng đổi thay thường xuyên và rất nhanh chóng.
Đánh giá đúng nhân viên sẽ giúp lãnh đạo đặt cấp dưới vào đúng vị trí, giao việc đúng với khả năng. Ngược lại, khi cấp dưới được cấp trên đánh giá đúng năng lực, đó là cách động viên họ tốt nhất.
90% nông sản Việt Nam xuất khẩu sang thị trường nước ngoài phải qua trung gian dưới những thương hiệu của các nước khác nên người tiêu dùng thế giới vẫn chưa biết nhiều về những nét đặc thù của nông sản Việt Nam.
Chưa bao giờ người tiêu dùng VN được khuyến khích “mại dzô” như hiện nay. Điện thoại cũ bất kỳ hiệu gì, đem đổi máy mới định giá 1 triệu đồng. Mua tủ lạnh lớn được tặng tủ lạnh nhỏ hoặc máy giặt. Mua máy tính xách tay tặng Ipod...
Việc định giá tài sản vô hình khó khăn không phải ở kỹ thuật mà là ở các số liệu kinh tế vĩ mô và vi mô làm đầu vào cho mọi kỹ thuật định giá.
Mặc dù liên tục công bố các số liệu tăng trưởng ổn định, nhưng các nhà đầu tư vẫn tỏ ra thất vọng về Microsoft, tập đoàn phần mềm lớn nhất thế giới. Và dường như đây là nỗi niềm chung của nhiều cổ phiếu nổi tiếng khác hiện nay.
Tài sản thương hiệu gồm 5 thành tố chính đó là: sự trung thành thương hiệu, sự nhận biết thương hiệu, chất lượng cảm nhận, thuộc tính thương hiệu, các yếu tố sở hữu thương hiệu khác. Khi đã tạo được thương hiệu mạnh nếu không duy trì thì thương hiệu sẽ nhanh chóng bị mờ nhạt.
Bạn có biết đằng sau những thương hiệu bia nổi tiếng là những cuộc mua bán sáp nhập công ty với giá trị khổng lồ của các tập đoàn sản xuất rượu bia.
Trang chủ   |   Liên hệ   
© Copyright 2004 - LANTABRAND - Total Brand Solution™
Giấy phép ICP của Bộ Văn hóa Thông tin số 150/GP-BC.
Vui lòng ghi rõ nguồn lantabrand.com khi bạn phát hành lại thông tin từ website này