Chuyên mục
  Thông tin thương hiệu
  Kiến thức thương hiệu
  Tình huống thương hiệu
  Download chuyên đề
  Giới thiệu Agency, Freelance
  Thiết kế & Thương hiệu
  Quảng cáo & Thương hiệu
  Thương hiệu trong phim
  Thương hiệu hàng đầu
  Sách thương hiệu
  Thuật ngữ thương hiệu
  Mua bán nhượng quyền
  Đo lường thương hiệu
  Đo lường website
  Tìm kiếm
 
  Trang chủ  >  Thông tin thương hiệu >
Ứng dụng thành tựu Nobel kinh tế 2007 vào kinh doanh
Cập nhật 6-11-2007 09:43

Lý thuyết thiết kế cơ chế sẽ giúp con người tìm ra những cơ chế để tác động lên thị trường một cách hiệu quả.



Giải thưởng Nobel kinh tế 2007 được trao cho nhà toán học người Mỹ về thành quả nghiên cứu lý thuyết thiết kế cơ chế (Mechanism Design Theory). Đó là giáo sư Leonid Hurwicz, 90 tuổi, trường Đại học Minnesota, Giáo sư Eric Maskin, 57 tuổi, Đại học Princeton và Giáo sư Roger Myerson, 56 tuổi, Đại học Chicago.

 

Lý thuyết thiết kế cơ chế do Giáo sư Leonid Hurwicz khởi sự, sau đó được Giáo sư Eric Maskin và Roger Myerson cải tiến và áp dụng. Lý thuyết này giúp giải quyết một trong những vấn đề lớn nhất của kinh tế học. Đó là thiết kế cơ chế nhằm giảm thiểu tổn hại kinh tế do việc thiếu thông tin tạo ra. Khi giao dịch trong tình trang thiếu thông tin về nhau, hai đối tác thường mặc cả với nhau khá chi li. Bên nào cũng muốn hưởng nhiều quyền lợi hơn và vì thế, giao dịch thông thành công. Thực tế, tình trạng này thường xảy ra. Đã có nhiều liên doanh thất bại, chỉ vì các bên  không thống nhất với nhau về việc chia sẻ quyền lợi và chi phí.

 

Giao dịch sẽ khó thành công nếu các đối tác thiếu thông tin về nhau

 

Vì lý thuyết thiết kế cơ chế là một nghiên cứu khá phức tạp, nên các tổ chức truyền thông đều cố gắng dùng những ví dụ đơn giản để bất cứ ai cũng có thể hiểu được. Dưới đây là một minh họa của ấn bản của Viện Khoa học Hàn lâm Thụy Điển.

 

Giả sử, Hùng là chủ nhân của một chiếc điện thoại di động và định bán điện thoại này cho Dũng. Giá trị chiếc điện thoại đối với Hùng là x và đối với Dũng là y. Hùng sẽ vui vẻ nếu bán được chiếc điện thoại này với giá cao hơn hoặc bằng x, nhưng sẽ giữ lại nếu giá thấp hơn x. Đối với Dũng thì ngược lại. Dũng sẽ mua nếu giá thấp hơn hoặc bằng y và sẽ không mua nếu giá cao hơn y. Giao dịch sẽ thành công, nếu Hùng và Dũng đồng ý bán theo một giá mà cả hai cùng có lợi. Điều này chỉ xảy ra khi giá trị của điện thoại đối với Dũng (y) cao hơn giá trị của điện thoại đối với Hùng (x), tức khi y lớn hơn x. Giả sử, gọi giá đồng ý là p, thì phần lợi mà Hùng đạt được là p – x, còn phần lợi của Dũng là y – p. Như vậy phần lợi của giao dịch này là p – x + y – p = y – x. Để đảm bảo giao dịch thành công, cần tìm một cơ chế sao cho việc mua bán chắc chắn. sẽ xảy ra, tức là tìm cơ chế sao cho y lớn hơn x.

 

Như đã đề cập ở trên, đây là trường hợp giao dịch thiếu thông tin. Hùng và Dũng đều không có thông tin về nhau, tức là họ không biết bên kia định giá trị của chiếc điện thoại ở mức nào. Có 3 khả năng xảy ra. Một khả năng là Hùng sẽ đưa ra đề nghị: “Đây là giá tôi muốn bán. Anh có quyết định muốn mua với giá đó hay không?”. Một khả năng khác cũng có thể xảy ra là Dũng đưa ra đề nghị: “Đây là giá tôi muốn mua. Anh có quyết định muốn bán với giá đó hay không?”. Khả năng thứ ba là cả hai đều đưa ra đề nghị vào cùng một thời điểm, đại loại như đấu thầu song phương. Nếu giá đề nghị của Hùng thấp hơn giá đề nghị của Dũng, thì hai bên sẽ thực hiện mua bán với giá nằm giữa hai giá đề nghị đó.

 

Tuy nhiên, trong cả 3 trường hợp trên, việc mua bán không phải lúc nào cũng xảy ra. Hãy phân tích từ phía Hùng. Nếu Hùng đưa ra phương án đề nghị một chiều, thì Hùng sẽ có khuynh hướng đưa ra giá trị cao hơn giá trị x (giả sử x=6). Khi Hùng đưa ra giá trị bằng 6, thì Hùng không quan tâm liệu Dũng có quyết định mua điện thoại hay không. Nếu Hùng đưa ra mức giá đề nghị cao hơn 6 (ví dụ giá đề nghị là 8), thì Hùng sẽ được lợi nếu Dũng mua. Như vậy, Hùng không lợi, cũng không tổn thất nếu Dũng không mua. Trong khi đó, Dũng chỉ sẽ mua nếu giá đề nghị chỉ bằng hay thấp hơn y (giả sử y=7). Như vậy, ngay cả trong trường hợp y lớn hơn x (tức là 7 lớn hơn 6), việc mua bán có thể không xảy ra. Vì khi đề nghị đơn phương, Hùng đã đưa ra giá trị đề nghị (8) cao hơn x (6) và cao hơn cả y (7). Phân tích từ phía Dũng cũng cho kết quả tương tự. Tuy Dũng định giá điện thoại với mình là 7, nhưng khi đề nghị giá đơn phương, Dũng sẽ có khuynh hướng đưa ra giá thấp hơn (ví dụ là 5). Khi đó việc mua bán không thể xảy ra, vì 5 là giá thấp hơn giá trị của điện thọai đối với Hùng.

 

Cùng đấu thầu: cơ chế giao dịch hiệu quả

 

Rõ ràng, việc Hùng hoặc Dũng đơn phương đưa ra giá đề nghị, không phải là cơ chế hiệu quả để đảm bảo giao dịch xảy ra. Cơ chế hiệu quả trong trường hợp này là cả hai bên cùng đấu thầu, tức cùng đưa ra giá một lúc và việc mua bán chỉ được tiến hành khi người đại diện thấy giá mà bên bán đưa ra thấp hơn giá đề nghị của bên mua. Lúc ấy, giá giao dịch sẽ là giá trung bình, hay giá nằm giữa hai giá đó theo một tỉ lệ đồng ý trước đó.

 

Hãy phân tích Hùng và Dũng trong trường hợp đấu giá tay đôi này. Dĩ nhiên, cả Hùng và Dũng đều có khuynh hướng đưa ra giá khác với giá trị x và y, vì khi đó họ sẽ nhận được lợi nhiều hơn. Hùng sẽ có khuynh hướng đưa ra giá cao hơn 6, trong khi đó Dũng có khuynh hướng đưa giá thấp hơn 7. Tuy nhiên, nhờ vào cơ chế ràng buộc giá của người bán mới xảy ra, nên giá mà Hùng đưa ra sẽ không quá cao và chênh lệch so với 6 và giá của Dũng sẽ không thấp và lệch quá so với 7. Một điều đơn giả là cả Dũng và Hùng đều hiểu rằng, nếu họ đưa ra giá quá chênh lệch và muốn lợi về mình, thì sẽ không có giao dịch. Chắc chắn, cả hai đều muốn có giao dịch để mỗi bên cũng có lợi hơn là ra về tay trắng.

 

Đó là một mình họa cụ thể giúp chúng ta tạo ra cơ chế nhằm giảm thiểu những tổn thất trong việc mua bán, trao đổi tay đôi. Đó chỉ là một trong nhiều ứng dụng của lý thuyết này. Nói một cách tổng quát, lý thuyết này giúp con người tìm ra những cơ chế để tác động lên thị trường một cách hiệu quả, cũng như được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như chính sách quản lý nhà nước, chính sách thuế, đấu giá, phân bổ nguồn lực, thiết kế các sản phẩm bảo hiểm, phân bố quyền lợi, chi phí trong các giao dịch.

 

Theo Nhịp cầu đầu tư

Trang chủ
Lưu trang này
In bài này
Gởi cho bạn bài này
Phản hồi bài viết này
Quay lại
CyVee Bookmark
Đóng  
 Các tin khác
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
  
Trang chủ   |   Liên hệ   
© Copyright 2004 - LANTABRAND - Total Brand Solution™
Giấy phép ICP của Bộ Văn hóa Thông tin số 150/GP-BC.
Vui lòng ghi rõ nguồn lantabrand.com khi bạn phát hành lại thông tin từ website này