Chuyên mục
  Thông tin thương hiệu
  Kiến thức thương hiệu
  Tình huống thương hiệu
  Download chuyên đề
  Giới thiệu Agency, Freelance
  Thiết kế & Thương hiệu
  Quảng cáo & Thương hiệu
  Thương hiệu trong phim
  Thương hiệu hàng đầu
  Sách thương hiệu
  Thuật ngữ thương hiệu
  Mua bán nhượng quyền
  Đo lường thương hiệu
  Đo lường website
  Tìm kiếm
 
  Trang chủ  >  Thông tin thương hiệu >
Bảy xu hướng phát triển của doanh nghiệp Việt Nam
Cập nhật 16-2-2005 05:21
Các cuộc điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê đã cung cấp nhiều thông tin đáng lưu ý về doanh nghiệp đang hoạt động của Việt Nam qua một số năm gần đây.

Số doanh nghiệp tăng nhanh

Tổng số lượng doanh nghiệp đang hoạt động đã tăng khá qua các năm kể từ năm 2001. Tổng số doanh nghiệp cuối năm 2003 đã nhiều gấp gần 4,5 lần năm 1992 và gấp trên 2,6 lần năm 1996, gấp 1,7 lần năm 2001. Số doanh nghiệp tăng mạnh ở khu vực ngoài quốc doanh và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, còn doanh nghiệp Nhà nước lại bị giảm mạnh do tổ chức sắp xếp lại, bán khoán, cho thuê, cổ phần hoá.

Tuy nhiên, số doanh nghiệp đang hoạt động thấp hơn nhiều so với số đăng ký kinh doanh. Có 2 nguyên nhân chính. Một mặt do số doanh nghiệp đăng ký chưa đưa vào hoạt động còn khá nhiều. Mặt khác, tình trạng đăng ký rồi nhưng không hoạt động cũng không ít. Số doanh nghiệp đang hoạt động tính bình quân một người dân ở nước ta đạt chưa được 0,9, còn thấp xa so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới.

Điều đó chứng tỏ, nền kinh tế thị trường ở nước ta còn ở trình độ thấp khi "mật độ" doanh nghiệp còn ít như trên.

Tổng quy mô doanh nghiệp đã tăng khá

Tổng số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp đang hoạt động có đến 31/12/2003 đạt 5,17 triệu người, gấp trên 3,3 lần năm 1995 và gấp gần 1,5 lần năm 2000.

Trong 4 năm, khu vực doanh nghiệp đã thu hút được gần 2 triệu lao động; nếu kể cả số tuyển dụng để thay thế khoảng 700 nghìn lao động giảm do các nguyên nhân (chủ yếu do giải quyết chế độ), thì số lao động mà khu vực doanh nghiệp tuyển dụng trong 4 năm là 2,7 triệu người, bình quân mỗi năm gần 700 nghìn người. Đó là những con số đáng khích lệ trong yêu cầu tạo ra việc làm mới cho xã hội.

Tuy nhiên, tỷ trọng số lao động làm việc trong các doanh nghiệp chiếm trong tổng số lao động trong nền kinh tế quốc dân cũng còn thấp (khoảng 12%).

Trong tổng số lao động làm việc trong khu vực doanh nghiệp, thì doanh nghiệp Nhà nước có 2,26 triệu người, không tăng so với năm trước, chiếm 43,7%, giảm so với tỷ trọng 48,5% của năm trước.

Số lao động làm việc trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đạt 2,05 triệu người, tăng 19,9%, chiếm 39,7%, tăng so với tỷ trọng 36,7% của năm trước.

Số lao động làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 0,86 triệu người, tăng 24,6%, chiếm 16,6%, cao hơn tỷ trọng 14,8% của năm trước.

Số lao động bình quân 1 doanh nghiệp đạt 71,8 người, thấp hơn mức bình quân 74 người của năm trước.

Quy mô lao động bình quân 1 doanh nghiệp của doanh nghiệp Nhà nước cao nhất, đạt 466 người, cũng thấp hơn mức 485 người của năm trước; của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 325,6 người, cao thứ hai trong các khu vực và cao hơn mức 299 người của năm trước; của doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhìn chung là ít, chỉ có 31,8 người, tuy có cao hơn một chút so với năm trước.

Tỷ lệ số doanh nghiệp có dưới 10 lao động còn chiếm 46,6% tổng số doanh nghiệp, tuy có ít hơn tỷ lệ 48% của năm trước.

Tổng nguồn vốn của các doanh nghiệp tại thời điểm 31/12/2003 là 1.709 nghìn tỷ đồng, gấp 8,3 lần vào thời điểm đầu năm 1995, gấp 1,54 lần đầu năm 2000 và tăng 18,6% so với cùng kỳ năm trước. Doanh nghiệp Nhà nước có vốn 1.003 nghìn tỷ đồng, chiếm 58,7% tổng số, thấp hơn tỷ trọng 62,1% của năm trước, tăng 12,1% so với năm trước; bình quân 1 doanh nghiệp đạt 207 tỷ đồng, cao hơn mức 166,9 tỷ đồng của năm trước.

Doanh nghiệp ngoài quốc doanh có vốn 337 nghìn tỷ đồng, chiếm 19,7% tổng số, tăng 41,6%, cao hơn tỷ trọng 16,5% của năm trước; bình quân 1 doanh nghiệp chỉ có 5,2 tỷ đồng, cao hơn mức 4,3 tỷ đồng của năm trước. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có tổng số vốn 369 nghìn tỷ đồng, chiếm 21,6% tổng số, bình quân 1 doanh nghiệp đạt 139,7 tỷ đồng.

Như vậy, bình quân 1 doanh nghiệp ngoài quốc doanh chỉ bằng 2,5% mức của doanh nghiệp Nhà nước và bằng 3,7% mức của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Tổng giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn của các doanh nghiệp đạt 636 nghìn tỷ đồng, tăng 15% so với cùng kỳ, bình quân 1 doanh nghiệp đạt 8,83 tỷ đồng; bình quân một lao động đạt 123 triệu đồng, tăng 4 triệu đồng so với cùng kỳ.

Trong đó, khối doanh nghiệp Nhà nước có 323 nghìn tỷ đồng, bình quân một doanh nghiệp đạt gần 66,7 tỷ đồng, bình quân 1 lao động đạt 142,9 triệu đồng. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có 210 nghìn tỷ đồng, bình quân 1 doanh nghiệp đạt 79,5 tỷ đồng, bình quân 1 lao động đạt 244 triệu đồng. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh có 103 nghìn tỷ đồng, bình quân 1 doanh nghiệp đạt gần 1,6 tỷ đồng, bình quân 1 lao động đạt 50,2 triệu đồng, chỉ bằng 35,1% của doanh nghiệp Nhà nước và bằng 20,6% của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Thu nhập bình quân cũng tăng nhanh

Thu nhập bình quân 1 tháng của 1 lao động khu vực doanh nghiệp đạt 1.367 nghìn đồng, tăng 9,4% so với năm trước, cao hơn nhiều so với khu vực cá thể và hộ gia đình và khu vực hành chính sự nghiệp.

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt cao nhất (1.774 nghìn đồng), nhưng lại giảm 6,5% so với năm trước. doanh nghiệp Nhà nước đạt 1.495 nghìn đồng, cao thứ 2 trong 3 khu vực và tăng 14,2%. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh đạt 1.046 nghìn đồng, tuy thấp nhất trong 3 khu vực, nhưng tăng 14,2% so với năm trước và cao hơn khu vực hành chính sự nghiệp.

Thu nhập cao và tăng lên của lao động khu vực doanh nghiệp góp phần cải thiện mức sống chung của toàn xã hội và tham gia vào quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang các ngành phi nông nghiệp.

Mức lỗ bình quân của doanh nghiệp giảm

Mặc dù tỷ lệ số doanh nghiệp có lãi giảm, tỷ lệ số doanh nghiệp bị lỗ tăng, nhưng mức lãi bình quân 1 doanh nghiệp tăng, mức lỗ bình quân 1 doanh nghiệp giảm.

Doanh thu tiếp tục tăng nhanh

Doanh thu của khu vực doanh nghiệp tăng với tốc độ khá, nhất là đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Nộp ngân sách tăng nhưng với tốc độ thấp

Tổng số tiền nộp ngân sách của các doanh nghiệp cũng đã tăng lên, nhưng tốc độ thấp, chủ yếu do nộp của doanh nghiệp Nhà nước bị giảm, của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không tăng .

Tỷ lệ nộp ngân sách so với doanh thu và nộp ngân sách so với bình quân 1 lao động, nhìn chung bị giảm, riêng doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng khá.

Tỷ lệ đóng bảo hiểm xã hội tăng lên

Số doanh nghiệp đóng bảo hiểm xã hội đã tăng khá, tỷ lệ số doanh nghiệp đóng bảo hiểm xã hội đã tăng lên nhưng còn thấp, nhất là doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

Nhìn chung, khu vực doanh nghiệp đã có những đóng góp tích cực. Doanh nghiệp tăng trưởng là yếu tố quyết định đến tăng trưởng cao lên của nền kinh tế trong những năm qua. Lợi ích cao hơn mà sự tăng trưởng của khu vực doanh nghiệp mang lại là:

- Tạo ra khối lượng hàng hoá và dịch vụ lớn hơn, phong phú hơn, chất lượng tốt hơn, thay thế được nhiều mặt hàng phải nhập khẩu, góp phần cải thiện và nâng cao mức tiêu dùng trong nước và tăng xuất khẩu và đó cũng là những yếu tố giữ cho nền kinh tế ổn định và phát triển trong những năm qua.

- Tạo ra được đội ngũ doanh nhân tiếp cận với kinh tế thị trường và mở cửa, hội nhập - những người thúc đầy trình độ kinh doanh chung và đưa nền kinh tế nước ta sánh vai với nền kinh tế của các nước trong vùng cũng như trên thế giới.

- Doanh nghiệp phát triển tác động đến chuyển dịch cơ cấu trong nền kinh tế quốc dân và trong nội bộ mỗi ngành.

Trước đây, doanh nghiệp phát triển chủ yếu trong ngành công nghiệp, còn các ngành khác chủ yếu là cá thể, hộ gia đình. Đến nay, doanh nghiệp đã có mặt ở hầu hết các ngành sản xuất, kinh doanh và ở một số ngành, doanh nghiệp đã chiếm tỷ trọng lớn.

Doanh nghiệp phát triển nhanh trong tất cả các ngành và ở khắp các địa phương đã tạo ra cơ hội phân công lại lao động giữa các ngành, chuyển dịch lao động nông nghiệp sang phi nông nghiệp, góp phần đô thị hoá theo hướng "ly nông bất ly hương".

Theo vneconomy

Trang chủ
Lưu trang này
In bài này
Gởi cho bạn bài này
Phản hồi bài viết này
Quay lại
CyVee Bookmark
Đóng  
 Các tin khác
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
  
Trang chủ   |   Liên hệ   
© Copyright 2004 - LANTABRAND - Total Brand Solution™
Giấy phép ICP của Bộ Văn hóa Thông tin số 150/GP-BC.
Vui lòng ghi rõ nguồn lantabrand.com khi bạn phát hành lại thông tin từ website này