Chuyên mục
  Thông tin thương hiệu
  Kiến thức thương hiệu
  Tình huống thương hiệu
  Download chuyên đề
  Giới thiệu Agency, Freelance
  Thiết kế & Thương hiệu
  Quảng cáo & Thương hiệu
  Thương hiệu trong phim
  Thương hiệu hàng đầu
  Sách thương hiệu
  Thuật ngữ thương hiệu
  Mua bán nhượng quyền
  Đo lường thương hiệu
  Đo lường website
  Tìm kiếm
 
  Trang chủ  >  Thông tin thương hiệu >
Marketing nhà hát
Cập nhật 7-8-2007 14:31

Từ kết quả làm việc của các nhân viên marketing, các lãnh đạo sẽ biết xu hướng của khán giả, sự tương tác đối ứng giữa xu hướng văn hóa, nhu cầu của người xem... để đưa ra những “món ăn” thích hợp. Các nhà hát và doanh nghiệp nghệ thuật quốc tế luôn dành ít nhất 15-20% vốn đầu tư cho marketing". Trên thế giới, cứ trung bình 40-50 nghệ sĩ lại có một nhóm nhân viên marketing. Công việc của họ là nghiên cứu thị trường, phỏng vấn khán giả, ...tìm hiểu khán giả hiện tại và khán giả tiềm năng - Ông Gerald Lidstone, Trưởng khoa Chính sách văn hóa và Quản lý nghệ thuật Trường Đại học Goldsmiths, London. 



Những Nhà hát không cần... bán vé?

 

Cả nước ta hiện có 129 nhà hát và đoàn nghệ thuật đang hoạt động, riêng Hà Nội có tới 17 nhà hát với nhiều thể loại nghệ thuật biểu diễn khác nhau, áp đảo cả TP. Hồ Chí Minh chỉ có 7 nhà hát.

 

Hà Nội còn áp đảo cả về số lượng NSND, NSƯT lẫn số HCV hội diễn. Nghĩa là, cứ theo lý ấy mà suy thì hoạt động biểu diễn tại Hà Nội phải sôi động hơn TP.HCM rất nhiều.

 

Nhưng thực tế thì ngược lại: Các nhà hát Hà Nội chỉ ồn ào một chút qua những kỳ hội diễn hay kỷ niệm, còn thường ngày thì... tắt lửa tối đèn! Các nhà hát nghệ thuật truyền thống hầu như “biến mất” khỏi tầm quan sát của khán giả và báo chí, như Nhà hát Tuồng TW, Nhà hát cải lương TW..

 

Một trong những nguyên nhân chính của sự trì trệ này là các nhà hát ở Hà Nội không thèm có bất cứ động thái nào trong việc chủ động đi tìm khán giả. Nói một cách chính xác, công tác marketing, tiếp cận thị trường của các đơn vị này gần như con số không.

 

Trong khóa đào tạo marketing cho các nhà hát tại HàNội ngày 1 - 3/8/2007, ông Gerald Lidstone, Trưởng khoa Chính sách văn hóa và Quản lý nghệ thuật Trường Đại học Goldsmiths, London, giảng viên khóa học đã dùng từ “hỗn độn” để diễn tả về công tác marketing trong các nhà hát Việt Nam. 

 

Ông Lidstone đã “vô cùng ngạc nhiên khi nhiều nhà hát Việt Nam không hề có khoản đầu tư nào cho marketing. Tôi không hiểu làm thế nào để khán giả biết đến các chương trình nghệ thuật của họ. Nhân sự của các nhà hát cũng không hề được đào tạo về marketing, kể cả các lãnh đạo. Trong nhận thức của họ cũng không coi marketing là quan trọng. Đây là quả là một vấn đề lớn”.

 

Từ kết quả làm việc của các nhân viên marketing, các lãnh đạo sẽ biết xu hướng của khán giả, sự tương tác đối ứng giữa xu hướng văn hóa, nhu cầu của người xem... để đưa ra những “món ăn” thích hợp. Các nhà hát và doanh nghiệp nghệ thuật quốc tế luôn dành ít nhất 15-20% vốn đầu tư cho marketing. Cứ trung bình 40-50 nghệ sĩ lại có một nhóm nhân viên marketing. Công việc của họ là nghiên cứu thị trường, phỏng vấn khán giả, tìm hiểu khán giả hiện tại và khán giả tiềm năng..

 

Bà Lê Ngọc Thủy, Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ và Phát triển văn hóa (A&C) cho rằng nguyên nhân chủ yếu của sự trì trệ trong công tác tiếp cận thị trường của các nhà hát nhà nước chính là ở cơ chế cấp – phát kinh phí theo kiểu “một cục” vốn đi theo lối mòn, không có sự sáng tạo. Số tiền đó tạm đủ để nuôi sống nhân viên nhà hát nên hầu như họ không cần phải nghĩ đến việc làm cho đồng tiền “sinh sôi nảy nở”.

 

Bà Thủy kể, trong quá trình khảo sát cho dự án, bà hỏi các lãnh đạo nhà hát: “Không marketing, chương trình không bán được vé, nghệ sĩ nhà hát sống như thế nào?” Họ bảo: “Mỗi năm chúng tôi được Nhà nước cấp cho 6 tỷ đồng. Nhà hát chúng tôi cho thuê, các nghệ sĩ đi làm bên ngoài thu nhập rất khá (!) 

 

Marketing = Biến nhà hát thành gánh xiếc rong?

 

NSƯT Chí Trung (Trưởng đoàn Kịch II, Nhà hát Tuổi trẻ) là người rất xông xáo trong công tác tiếp cận khán giả, và dù nhiều cách thức tiếp cận của anh bị dè bỉu là “buôn nghệ thuật” hay “biến nhà hát thành gánh xiếc rong” thì không ai phủ nhận việc đoàn kịch của anh vẫn là đơn vị “bán hàng” tốt nhất.

 

Trong khi đó, NSƯT Phạm Duy Xuyên, Phó Giám đốc Liên đoàn xiếc VN thừa nhận đây là thời điểm khó khăn cho các nhà hát bao cấp khi “phải” tự hạch toán kinh doanh, và vì vậy “chúng tôi đang loay hoay tìm hiểu về marketing”.

 

Tuy nhiên ông Xuyên cũng cho rằng các loại hình nghệ thuật truyền thống “rất khó marketing”, công tác marketing cho múa rối, xiếc... cũng “có làm nhưng không hiệu quả”. Ông thừa nhận: “Những người làm công tác lãnh đạo, trong đó có tôi, chưa thật sự quan tâm đến công tác này”. Nhưng ông “thanh minh” rằng lỗi do kinh phí cho khâu này còn ít nên không thể thực hiện.

 

Sự xông xáo, chịu khó tiếp thị của sân khấu TP.HCM đáng để cho Hà Nội suy nghĩ, ngay cả với các loại hình nghệ thuật truyền thống, Ông Khúc Văn Hùng, Cán bộ phòng tổ chức biểu diễn Nhà hát cải lương Trần Hữu Trang, TP. Hồ Chí Minh nói rằng số tiền nhà hát ông bỏ ra đầu tư cho vở cải lương Kim Vân Kiều là một “kỷ lục”, nhưng là hoàn toàn cần thiết để nâng cao thương hiệu nhà hát. Trước khi vở diễn ra mắt vài tháng, đích thân Ban Giám đốc cùng các nhân viên đã xúc tiến khâu tiếp thị đưa chương trình, tờ rơi đến từng tiểu thương của các chợ. Trước hai tháng, vé của chương trình được chào bán ở mọi địa điểm dễ tiếp cận khán giả nhất…

 

Trong bối cảnh các môn nghệ thuật truyền thống đang càng ngày càng nhiều áp lực cạnh tranh. Một cuộc “bứt phá” để kéo khán giả trở lại của Kim Vân Kiều được coi là chiêu quảng bá “chịu chơi và hiệu quả”.

 

Theo Vietnamnet

Trang chủ
Lưu trang này
In bài này
Gởi cho bạn bài này
Phản hồi bài viết này
Quay lại
CyVee Bookmark
Đóng  
 Các tin khác
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
  
Trang chủ   |   Liên hệ   
© Copyright 2004 - LANTABRAND - Total Brand Solution™
Giấy phép ICP của Bộ Văn hóa Thông tin số 150/GP-BC.
Vui lòng ghi rõ nguồn lantabrand.com khi bạn phát hành lại thông tin từ website này