
Target Eye là một công ty phát triển phần mềm, đăng lý trụ sở tại khu Kensington thuộc thủ đô London. Tuy nhiên, trên thực tế, “trụ sở” của Target Eye chỉ là một…thùng thư, còn nơi làm việc đích thực của công ty lại là một ngôi nhà tồi tàn ở vùng ngoại ở phía Nam London. Chủ công ty này là hai vợ chồng người Israel Michael và Ruth Haephrati. Họ phát triển một phần mềm gọi là “Trojan” (ngựa thành Troie), có thể xâm nhập vào máy tính người khác thông qua một cửa sổ bí mật để lấy cáp giữ liệu trong đó.
Khi phần mềm “trojan” hoàn chỉnh, họ gạ bán cho các công ty dịch vụ an ninh toàn cầu nhưng đều bị từ chối. Cuối cùng họ quyết định sử dụng ngôi nhà đang ở làm căn cứ để thâm nhập vào các công ty tài chính và truyền thông khắp châu lục. Một trong những nạn nhân đầu tiên của họ là Công ty Rani Rahav Communications, một cơ sở giao dịch công cộng ở Istael đang có quan hệ làm ăn với nhiều công ty hàng đầu trong nước và đang sở hữu nhiều thông tin thương mại thuộc vào loại nhạy cảm nhất, như chi tiết về các sản phẩm sẽ sản xuất trong tương lai, các dự án định thực hiện của các doanh nghiệp lớn…
“Đi đêm lắm ắt có ngày gặp ma”, cuối cùng hành vi đánh cắp thông tin của vợ chồng Haepphrari bị cơ quan an ninh Israel phát hiện. Họ bị chính quyền Anh quốc dẫn độ về Tel Aviv để xét xử.
Ví dụ này chỉ mới nêu một hình thức gián điệp công nghiệp thuộc loại “cò con“ do một vài cá nhân thực hiện. Ngày nay, hoạt động này được mở rộng ở cấp doanh nghiệp, tập đoàn, thậm chí ở cấp nhà nước và theo đánh giá của các an ninh phương Tây, hàng năm, mức thiệt hại do gián điệp công nghiệp gây ra cho nền kinh tế toàn cầu lên đến 200 tỉ USD. Bên cạnh hình thức dùng phần mềm tin học thâm nhập vào mạng máy tính của các doanh nghiệp, không ít hoạt động gián điệp công nghiệp phổ biến hiện nay vẫn còn mang tính truyền thông như làm nội ứng cho người ngoài, bí mật cung cấp know-how (bí quyết sản xuất), quy trình công nghệ hay thành phần cấu tạo các chất phụ gia vốn là yếu tố quyết định chất lượng của những sản phẩm có tính cạnh tranh trên thị trường.
Năm 2003, hãng sản xuất hàng không quốc phòng hàng đầu ở Mỹ là Lockheed Martin khởi kiện đối thủ Boeing về việc đã thực hiện hoạt động gián điệp trong cuộc chạy đua giành quyền ký hợp đồng với không quân Mỹ. Theo Lockheed, Boeing đã đánh cắp của họ hàng ngàn tài liệu mật liên quan đến việc đấu thầu thực hiện một chương trình sản xuất tên lửa quân sự trị giá 2 tỉ USD vào năm 1998. Cuối cùng, bộ quốc phòng Mỹ đã quyết định không cho Boeing tham gia đấu thầu cung cấp tên lửa, đồng thời đơn phương hủy bỏ một số hợp đồng đã ký với hãng với tổng trị giá 1,1 tỉ USD.
Ở Anh, một vụ kiện về gián điệp công nghiệp diễn ra vào năm 2004, khi hệ thống cửa hàng bán lẻ Marks & Spencer phát hiện một âm mưa lấy cấp thông tin trên điện thoại di động của chủ nhân hệ thống này là ông Stuart Rose. Trước đó ba năm (2001) cũng đã có một vụ kiện giữa hãng sản xuất hàng tiêu dùng khổng lồ của Mỹ là Procter & Gamble có các thương hiệu bột giặt Ariel và Daz, dầu gội đầu Pantene đã bị Unilever - chủ nhân hai mặt hàng dầu gội đầu nổi tiếng Organics và Sunsilk - kiện vì đã tìm cách lấy các thông tin nhạy cảm của họ. Cuối cùng, Procter & Gamble đã phải dàn xếp với Unilever để vụ kiện không đi xa hơn nữa.
Ngày nay, phương tiện và kỹ thuật bảo mật của các cơ quan chính quyền, các doanh nghiệp trên thế giới đã tiến một bước xa nhờ sự tiến bộ vượt bậc của công nghệ thông tin. Tuy nhiên, nếu móng tay nhọn thêm thì vỏ quýt cũng dày thêm. Không ai giám chắc rằng hoạt động gián điệp công nghiệp sẽ không còn đất sống và đề cao cảnh giác bao giờ cũng không thừa.
Theo Doanh Nhân Sài Gòn Cuối Tuần