Chuyên mục
  Thông tin thương hiệu
  Kiến thức thương hiệu
  Tình huống thương hiệu
  Download chuyên đề
  Giới thiệu Agency, Freelance
  Thiết kế & Thương hiệu
  Quảng cáo & Thương hiệu
  Thương hiệu trong phim
  Thương hiệu hàng đầu
  Sách thương hiệu
  Thuật ngữ thương hiệu
  Mua bán nhượng quyền
  Đo lường thương hiệu
  Đo lường website
  Tìm kiếm
 
  Trang chủ  >  Thông tin thương hiệu >
Toàn cầu hoá làm mất cả hi vọng và lòng tự trọng
Cập nhật 13-9-2006 15:53

Đối với một nửa thế giới giàu có, toàn cầu hoá làm tăng thêm khoảng cách giữa các giai tầng trong xã hội. Nhưng đối với nửa còn lại nghèo đói và thất nghiệp thì khoảng cách chủ yếu là giữa các quốc gia: có nước thích nghi được với toàn cầu hoá và ở nhiều nơi đã trở nên phồn thịnh, nhưng có nước lại không thích nghi được, thậm chí trong nhiều trường hợp đã sụp đổ.



Trung Quốc và Ấn Độ có khả năng cạnh tranh trên phạm vi toàn cầu, tuy nhiên chỉ một bộ phận nhỏ dân cư của họ có cuộc sống phồn vinh. Sự bất bình đẳng ngày càng tăng giữa dân thành thị và nông thôn, giữa miền duyên hải và nội địa ở Trung Quốc có thể gây ra những hậu quả nặng nề trong trường hợp diễn ra sự quá độ về chính trị.

 

Bốn mươi nước nghèo nhất, phần lớn ở châu Phi, có tốc độ tăng trưởng bằng 0% trong suốt 20 năm qua. Chính phủ những nước này đã nghe theo lời khuyên của những nước giàu và cố vấn của WB về nhiều vấn đề từ tư nhân hoá đến phát triển, nhưng hàng triệu người dân ở những nước này vẫn đang sống trong cảnh đói nghèo.

 

Điều hài hước là những người giàu nhất kiếm lợi từ nguồn lao động giá rẻ và chính sách của phương Tây càng làm tăng thêm khoảng cách giữa người giàu và người nghèo. Những người dân nhập cư liều lĩnh rời bỏ quê hương, không còn niềm tin là Chính phủ ở nước họ có thể vượt qua những trở ngại đang ngày càng tăng.

 

Đối với một nửa thế giới nghèo khổ, toàn cầu hoá chỉ khiến họ mất hi vọng và mất lòng tự trọng.  

Sẽ có nhiều người ở những nước nghèo, kém phát triển và đang chia rẽ ủng hộ quan điểm chính trị oán ghét toàn cầu hoá.

 

Sẽ có nhiều người ở những nước nghèo, kém phát triển và đang chia rẽ ủng hộ quan điểm chính trị oán ghét toàn cầu hoá.


Quả thực, thế giới thứ ba chưa bao giờ ở trong một liên minh giống như thế giới thứ nhất và thứ hai đã từng có. Nhưng nó được liên kết bằng sự phản đối chủ nghĩa thực dân và không muốn trở thành chiến trường cho hai ý thức hệ đang thống trị lúc đó.

 

Khi thế giới thứ hai sụp đổ và quá trình toàn cầu hoá bắt đầu, chất keo gắn kết các nước thế giới thứ ba không còn tồn tại và một số nước, nổi bật nhất là Trung Quốc và Ấn Độ - đều tăng tốc trong công cuộc phát triển kinh tế, thu được nhiều hưởng thành quả mà thương mại tự do và nguồn vốn lớn mang lại. Và mặc dù hai nước này đã thích nghi tốt với toàn cầu hoá nhưng vẫn còn một chút nghi ngờ liệu sự phồn vinh mà hai nước này mới đạt được có gây ra nhiều rạn nứt mới.

 

Sự bất bình đẳng giữa các tỉnh miền duyên hải và nội địa, cũng như giữa thành thị và nông thôn ngày càng tăng ở Trung Quốc. Tương tự, đó thậm chí có thể là sự bất bình đẳng giữa các bang miền Nam Ấn Độ, trung tâm kinh tế của nước này nơi có nhiều thành phố lớn như Mumbai, Chennai và Bangalore với miền Bắc chậm phát triển. Đối với Trung Quốc, nước vẫn còn đang phải đương đầu với thời kỳ quá độ chính trị tiến tới một chế độ dân chủ, sự bất bình đẳng ngày càng tăng giữa những khu vực khác nhau có thể gây ra những hậu quả nặng nề.


Nhưng một nhóm các quốc gia khác ở thế giới thứ ba, từ Mỹ Latinh đến châu Phi và các nước xã hội chủ nghĩa đã từng trải qua một phần tư thế kỷ kinh tế suy thoái thậm chí đình đốn do nội chiến, xung đột quốc tế và thảm hoạ AIDS. Trong khi giai đoạn 1980 và 2002, mức tăng trưởng trung bình đầu người ở các nước giàu là 2% một năm thì 40 nước nghèo nhất thế giới có mức tăng trưởng bằng 0%. Đối với châu Phi rộng lớn với 200 triệu người sinh sống, mức thu nhập ngày nay còn thấp hơn thời kỳ Tổng thống John F. Kennedy.


Đối với các nước này, sự hứa hẹn những gì toàn cầu hoá mang lại đã không bao giờ có được.

 

Những chính sách đồng thuận mà Washington vẫn thường khoe khoang đã không mang lại một sự cải thiện nào cho số đông những người lao động, mà thay vào đó chỉ khiến điều kiện sống của họ xấu đi khi mà những dịch vụ xã hội chủ yếu bị tư nhân hoá và trở nên đắt đỏ hơn.

 

Có thể lấy ví dụ, như tư nhân hoá ngành cung cấp nước ở Cochabamba, Bolivia và Trinidad, tư nhân hoá ngành điện ở Argentina và Chad. Những vụ tư nhân hoá này thường dẫn đến kết quả ngoài kiểm soát các ngành này và hiển nhiên khiến điều kiện sống của người dân trở nên xấu đi.

 

Đối với nhiều người ở Mỹ Latinh và châu Phi, toàn cầu hoá xuất hiện giống như một cái vỏ mới mẻ và hấp dẫn hơn phủ lên chủ nghĩa đế quốc già nua, hoặc tồi tệ hơn là dạng tái thực dân hoá.

 

Sự phản ứng của phe cánh tả trải dài khắp Mỹ Latinh, từ Mêhicô đến Argentina là hệ quả trực tiếp của đường lối sai lầm trong chính sách được vạch ra để mang lại lợi ích cho giới tài chính phố Wall chứ không phải cho những người dân ở Lama hay Caracas.


Những nhà nước khác ở thế giới thứ ba, đặc biệt những nước ở tuyến đầu trong cuộc chiến giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản, với sự thù hận dân tộc bị kích động trong thời kỳ chiến tranh lạnh, với những nỗ lực của Washington và Moscow nhằm giành ưu thế trong cuộc xung đột này, đều khủng hoảng vì nội chiến và xã hội hỗn loạn.

 

Phần thế giới này gắn toàn cầu hoá với sự thất vọng, oán hận và nghèo đói, chiến tranh và bệnh tật. Tại một số nước châu Phi cận Sahara, đến đầu thế kỷ XXI, tuổi thọ của người dân mới chỉ bằng ở châu Âu gần 2 thế kỷ trước, nhưng lại ngày càng tồi tệ hơn. Ở Zimbabwe, từ năm 1995 đến 2003, tuổi thọ đã giảm 11 năm xuống chỉ còn 39 tuổi.


Những hệ tư tưởng nhằm mang lại điều kiện kinh tế tốt hơn và sự tự trọng hơn cho nhiều dân tộc ở châu Phi (từ chủ nghĩa xã hội châu Phi của Kwame Nkrumah đến “nền kinh tế hợp tác xã” của Julius Nyerere) và những lí thuyết khác nằm trong hệ tư tưởng của khối xã hội chủ nghĩa trước đây (“quản lí lao động” của Tito) đều sụp đổ và nhường chỗ cho những tập đoàn đầu sỏ chính trị chỉ phục vụ lợi ích của họ thông qua những chính sách không phải lấy ý kiến của người dân mà là trích dẫn những bản báo cáo của WB hay Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF).

 

Nếu nhìn nhận thế giới thứ ba trong một tổng thể thì toàn cầu hoá, may ra chỉ sản sinh ra được cái mà Tocqueville gọi là một Chính phủ của những tầng lớp trung lưu có đầu óc thương mại, “một Chính phủ không vô đạo đức và chẳng có gì tốt đẹp”; nếu tồi hơn thì nó chỉ sinh ra những Chính phủ của những nhà tài phiệt hoặc những nhóm người ưu tú trong xã hội, không quan tâm gì đến nhân dân của họ.

 

Do vây, ở những nước nghèo nhất và yếu kém nhất thế giới, người dân nhìn nhận toàn cầu hoá với thái độ khó chịu nhất.


Có lẽ tổn thất lớn nhất của chủ nghĩa tư bản toàn cầu coi tiền là mục tiêu duy nhất đó là đã khiến những người thua thiệt về kinh tế và chủ yếu sống ở những nước nghèo nhất mất đi lòng tự trọng.

 

Những người châu Phi liều lĩnh và tuyệt vọng muốn rời bỏ quê hương ra đi không chỉ vì thu nhập thấp và tương lai mờ mịt mà còn vì thiếu niềm tin rằng họ hay Chính phủ của họ, không quan trọng ai là người nắm quyền lãnh đạo, có thể làm cho cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn.

 

Sự tuyệt vọng và mất hết lòng tự trọng này quả thực đúng là một sản phẩm của toàn cầu hoá. Trước đây, như ai đó có thể cảm thấy coi nhẹ số phận đã khiến họ phải sinh ra ở một nước nghèo, nhưng được bù đắp bởi niềm tin rằng vẫn còn những phẩm chất khác có ý nghĩa và rằng đất nước họ có thể mang đến cho thế giới này một thứ gì đó giá trị, một hệ tư tưởng khác hoặc là một lối sống khác. Nhưng ngày nay, không còn ai nghĩ như thế nữa.


Vấn đề, thật kỳ lạ như Friedrich Hayek đã từng nói. Theo Hayek, những kết quả của thị trường, không nhất thiết phải là sự công bằng hay không công bằng về mặt đạo đức bởi lẽ thị trường trung lập về khía cạnh đạo đức. Nhưng để hỗ trợ cho tình trạng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu hiện nay, những người đề xướng ra nó khăng khăng rằng sự thành công của cải cách kinh tế không chỉ thể hiện ở khía cạnh vật chất mà còn ở giá trị đạo đức và tinh thần.

 

Những người thắng thế sẽ khiến được cảm thấy không chỉ giàu có hơn mà còn đạo đức hơn. Trong khi đó, những người thất bại thì cảm thấy nghèo hơn và xấu hổ với sự thất bại của họ. Nhiều người, nhưng có thể hiểu không phải là tất cả, cảm thấy sung sướng với sự phán xét như vậy.

Sự trùng hợp ngẫu nhiên thú vị về lợi ích đã xuất hiện giữa những nhóm người liều lĩnh và tuyệt vọng này với những người dân giàu có ở các nước phát triển. Những người giáu, được học hành nghiêm chỉnh và có những lợi ích về kinh tế đáng kể, ủng hộ năng lực cạnh tranh cao hơn và sự di trú từ thế giới thứ ba do họ, dù là người đầu tư ra nước ngoài hay người tiêu dùng những sản phẩm dịch vụ với chi phí lao động rẻ ở quê hương họ, đều có lợi từ nguồn lao động giá rẻ này.

 

Sự trùng hợp ngẫu nhiên không chắc là đúng này khiến cho sự bào chữa hời hợt của George Bush và Tony Blair rằng sự phản đối toàn cầu hoá sẽ đi ngược lại lợi ích của người nghèo càng thêm có giá trị. Vấn đề mà ngài Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh không nhận thấy đó là những chính sách mà Chính phủ nước họ áp đặt cho các nước nghèo trong 2 thập kỷ qua đã khiến người dân ở những nước này đi đến sự tuyệt vọng như hiện nay.


Bị kẹp giữa “liên minh” của những nước ở đỉnh và ở đáy của thế giới này là những người thiệt hại do toàn cầu hoá: tầng lớp thấp và trung lưu ở phương Tây và những người dân ở những nước đã “thất bại” trong cải cách kinh tế, nhưng chưa tuyệt vọng đến mức ngay lập tức tìm cách bỏ sang Mỹ hoặc châu Âu.

 

Họ cũng thiệt hại nếu xét đến khía cạnh thu nhập cá nhân và chủ quyền quốc gia. Họ có thể không vui vẻ chấp nhận rằng họ ở kém về đạo đức. Dường như họ cũng không muốn tìm cách cản trở quá trình toàn cầu hoá vì quyền lực của họ rất hạn chế. Tuy nhiên, trong một thế giới phụ thuộc lẫn nhau, có thể dễ dàng tiếp cận được với những loại vũ khí giết người thì có thể sẽ có nhiều người theo đuổi quan điểm oán ghét toàn cầu hoá.

 

Theo VietnamNet

Trang chủ
Lưu trang này
In bài này
Gởi cho bạn bài này
Phản hồi bài viết này
Quay lại
CyVee Bookmark
Đóng  
 Các tin khác
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
  
Trang chủ   |   Liên hệ   
© Copyright 2004 - LANTABRAND - Total Brand Solution™
Giấy phép ICP của Bộ Văn hóa Thông tin số 150/GP-BC.
Vui lòng ghi rõ nguồn lantabrand.com khi bạn phát hành lại thông tin từ website này