Chuyên mục
  Thông tin thương hiệu
  Kiến thức thương hiệu
  Tình huống thương hiệu
  Download chuyên đề
  Giới thiệu Agency, Freelance
  Thiết kế & Thương hiệu
  Quảng cáo & Thương hiệu
  Thương hiệu trong phim
  Thương hiệu hàng đầu
  Sách thương hiệu
  Thuật ngữ thương hiệu
  Mua bán nhượng quyền
  Đo lường thương hiệu
  Đo lường website
  Tìm kiếm
 
  Trang chủ  >  Thông tin thương hiệu >
Đọc “Cái đuôi dài” của Chris Anderson
Cập nhật 5-9-2006 09:00

Cái “đuôi dài” mà Anderson nói đến một cách rất gợi hình chính là biểu đồ số lượng bán của một sản phẩm qua thời gian. Hãy tưởng tượng một cuốn sách vừa xuất bản của một tác giả tương đối có tên tuổi. Lập tức (trong tuần đầu hoặc tháng đầu) nó sẽ bán rất chạy - đó là “phần đầu” của cuộc đời nó - song rồi tất nhiên sức bán sẽ ngày càng giảm đi - đó là “phần đuôi”. Nhận xét độc đáo của Anderson là cái đuôi này có thể rất dài, thậm chí... vô tận! 



Chris Anderson hiện là chủ biên nguyệt san Wired thường được xem là tờ báo “phải đọc” của dân theo dõi “văn minh” Internet và “công nghệ số” . Trước đây ông cũng đã phụ trách trang công nghệ của tuần báo The Economist nổi tiếng của Anh.

 

Năm 2004 ông viết một bài dài trên Wired về ảnh huởng của tiến bộ thông tin đối với thương mại và văn hóa. Cuốn The Long Tail (*) (Cái đuôi dài), vừa xuất bản, khai triển bài viết ấy, mô tả một hiện tượng mà Anderson gọi là “cái đuôi dài”, cụm từ chắc sẽ trở thành một thuật ngữ kinh doanh thời thượng từ rày về sau. 

 

Cái “đuôi dài” mà Anderson nói đến một cách rất gợi hình chính là biểu đồ số lượng bán của một sản phẩm qua thời gian. Hãy tưởng tượng một cuốn sách vừa xuất bản của một tác giả tương đối có tên tuổi. Lập tức (trong tuần đầu hoặc tháng đầu) nó sẽ bán rất chạy - đó là “phần đầu” của cuộc đời nó - song rồi tất nhiên sức bán sẽ ngày càng giảm đi - đó là “phần đuôi”. Nhận xét độc đáo của Anderson là cái đuôi này có thể rất dài, thậm chí... vô tận! 

 

Hiện tượng này rõ nét nhất ở các sản phẩm văn hóa như sách, nhạc, phim ảnh (DVD). Mức cầu của các tác phẩm bán thật chạy (“hit”) là rất cao lúc ban đầu, về sau có giảm cũng không bao giờ hết hẳn; đôi khi một tác phẩm không là “hit” lúc mới ra cũng có một cái đuôi rất dài.

 

Cụ thể, qua thời gian, tuy các “hit” không còn “ăn khách” đại trà như lúc chúng mới ra, song vẫn còn “ăn khách” đối với một nhóm nhỏ nào đó. Đây là lý do mà những hãng như Netflix (cho thuê DVD phim) hoặc Amazon (bán sách trên mạng) có doanh thu lớn chẳng những nhờ các “hit” trong thời gian ngắn, mà còn bằng vô số cú li ti, lai rai cũng có người tìm thuê hay mua, không bao giờ dứt hẳn.

 

Nói khác đi, “phần đuôi” (tuy thấp) của một sản phẩm có đuôi dài cũng đem lại lợi nhuận không kém phần đầu (cao, nhưng không lâu) của sản phẩm ấy. Đi xa hơn, Anderson tiên đoán rằng càng ngày các “blockbusters” (sản phẩm cực kỳ ăn khách) sẽ càng ít quan trọng, khi số nhà sản xuất ngày càng đông.

 

Nhìn cách khác, thay vì có một thị trường chung chung cho mỗi loại sản phẩm, sẽ có vô số thị trường nho nhỏ, nhắm vào những thị hiếu khác nhau của từng nhóm người tiêu dùng.

 

Tại sao có hiện tượng “đuôi dài”? Theo Anderson có hai lý do chính, đó là (1) “số hóa” (digitalization) và (2) Internet; nói khác đi, các thay đổi về mặt cung lẫn mặt cầu do những tiến bộ công nghệ và thông tin.

 

Về mặt cung, công nghệ “số hóa” các sản phẩm thông tin như nhạc, phim ảnh đã giảm phí tồn trữ và phân phối của một bản nhạc, hay một DVD, xuống gần bằng con số không. Thậm chí sách cũng ngày càng được lưu trữ dưới dạng số hóa, chỉ khi có người mua thì mới in (từng quyển), lắm khi người đọc không cần nhận cả bản in (chọn đọc ngay trên màn hình).

 

Hãy nhớ lại quá khứ: nhà sản xuất và bán lẻ luôn cần những nhà kho khổng lồ, hệ thống phân phối tốn kém để đưa món hàng đến tay người tiêu dùng, có khi xa xôi vạn dặm. Với công nghệ số hóa thì khâu này (cho nhiều loại hàng) không còn cần thiết nữa. Các nhà xuất bản sách, công ty phim ảnh có thể giữ trong “bộ nhớ” điện tử của họ tất cả những bản nhạc, phim ảnh, cuốn sách mà họ đã cho ra đời, không bao giờ phải hủy những tựa cũ để “dành chỗ” cho tựa mới.

 

Do đó mà cái “đuôi” bán có thể dài bất tận. Rõ ràng, đây là một cuộc cách mạng trong kinh doanh bán lẻ. 

 

Song, lý do lớn hơn của hiện tượng “đuôi dài” này có lẽ là ở phía cầu, cụ thể là Internet. Khi một người truy cập trang web của Amazon để tìm một quyển sách, hoặc trang của Netflix để thuê một cuốn phim, chẳng hạn, thì người ấy luôn luôn đuợc “đề nghị” mua thêm những quyển sách hoặc thuê thêm những cuốn phim tương tự với quyển sách, cuốn phim mà người ấy đang tìm.

 

Với phần mềm ngày càng “thông minh” của các công ty ấy, khách hàng càng quen thì người bán càng biết rõ sở thích, và các “khuyên dùng” của họ càng chính xác. Điều quan trọng là các tựa được đề nghị có thể là những quyển sách, cuốn phim ra đời từ lâu. Thậm chí, một tác phẩm vừa ra, bán chạy, có thể gây tò mò, làm sống lại những tác phẩm ra nhiều năm trước song ít người biết khi chúng mới xuất hiện (Anderson kể lại nhiều trường hợp thú vị).

 

Ngoài danh mục (nhiều triệu tựa) trên những “cửa hàng ảo” như Amazon, Netflix, iTunes (bán nhạc) mà người mua có thể rảo xem (chuyện không thể có ở một cửa hàng “vật chất”), còn phải kể đến ảnh hưởng của các công cụ tìm kiếm trên mạng (như Google, Yahoo!) hoặc những lời kháo nhau trên các diễn đàn điện tử... Cái “đuôi” của một sản phẩm vì thế mà hầu như không bao giờ dứt, bao giờ cũng có lai rai người tìm mua. 

 

Cũng nên để ý rằng hiện tượng “đuôi dài” không giới hạn ở những loại hàng có thể được số hóa và bán trên mạng. Chủ yếu là món hàng nào cần một nhóm (có thể không lớn, và tản mát khắp thế giới) người muốn có, và những người này có cách để biết đến nó (đồn đại, danh mục...), thì “đuôi” nó sẽ dài. Chính Internet là môi trường mà người mua và người bán các món hàng như vậy có thể “tìm” ra nhau (giải thích sự thành công lạ lùng của eBay, chuyên dịch vụ đấu giá, mua bán mọi thứ trên mạng).

 

Như một mô hình kinh doanh, “đuôi dài” có vẻ hữu ích nhất cho những loại hàng mà (a) tổn phí tồn kho cho thêm một đơn vị (một bản nhạc, một cuốn sách số hóa) là hoàn toàn không đáng kể, và (b) thị hiếu của người tiêu dùng là manh mún.

 

Anderson nhận xét: Khác ngày xưa, một doanh nghiệp bán hàng tiêu dùng ngày nay không nhất thiết phải đầu tư vào một “blockbuster” mà bỏ công sức tạo ra các kênh cho phép đông đảo người tiêu dùng tìm ra nhiều sản phẩm khác nhau, tùy theo những thị hiếu rất khác nhau của họ.

 

Một đặc tính của các kênh này là chúng cho phép hàng triệu người tiêu dùng làm những thao tác (tìm kiếm, đánh giá, so sánh) mà không cần nhiều công sức và thời giờ (như lướt web), những thao tác mà trong quá khứ chính các doanh nghiệp phải cung ứng (Anderson đặt một chữ mới để mô tả hiện tượng này, đó là “crowdsourcing”, tạm dịch là “khoán cho đám đông”) .

 

Phải nhìn nhận rằng hiện tượng “đuôi dài” là một khám phá đáng kể của Anderson. Tuy nhiên, cũng phải nhận rằng không phải loại hàng nào cũng có “đuôi dài”. Hai ngoại lệ dễ thấy: Những loại hàng mà tổn phí sản xuất thêm một đơn vị (kinh tế học gọi là “phí biên tế”), tồn trữ và chuyên chở vẫn còn khá cao (ví dụ tủ lạnh, ô tô), và những loại hàng mà bản tính của nó phải là “hợp chuẩn” (ví dụ cái cắm điện) mà sở thích người tiêu dùng không thể “manh mún”. 

 

Đây là một quyển sách đáng đọc, có nhiều giai thoại thú vị. Tuy nhiên, hãnh diện với phát giác của mình, Anderson nhiều lúc quá “hưng phấn”, khẳng định rằng công nghệ số và Internet chẳng những ảnh hưởng sâu xa đến kinh tế, chúng đảo ngược cả nguyên lý căn bản nhất của kinh tế học: thay vì một khoa học để giải quyết sự khan hiếm hàng hóa như sách vở vẫn dạy, ta sẽ có một khoa học về “dồi dào”!

 

Anderson “vung tay quá trán” hơn nữa khi cho rằng cái “đuôi dài” còn là dạng hình nhiều mặt của cuộc sống (từ giáo dục đại học đến... Al Qaeda) và vũ trụ nói chung! Những “ứng dụng” ấy thì e phải tồn nghi.  

 

Theo TBKTSG

Trang chủ
Lưu trang này
In bài này
Gởi cho bạn bài này
Phản hồi bài viết này
Quay lại
CyVee Bookmark
Đóng  
 Các tin khác
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
  
  Tài trợ bởi
  Các chủ đề liên quan
Những nghiên cứu gần đây nhất đã cho thấy 90% công ty theo hợp đồng thương hiệu tại Hoa Kỳ tiếp tục hoạt động sau 10 năm, trong khi 82% công ty độc lập phải đóng cửa và cũng chỉ có 5% công ty theo hợp đồng thương hiệu thất bại trong năm đầu tiên so với 38% công ty độc lập
Đã bao nhiêu lần sau khi tắt TV, trong đầu bạn vẫn rộn rã những giai điệu vui tươi của một tiết mục quảng cáo nào đó? Đây chính là một quảng cáo hiệu quả, bởi giai điệu của nó lôi cuốn đến mức sau vài giờ xuất hiện, nó vẫn phảng phất đâu đó trong suy nghĩ của bạn. Bạn hãy để ý mà xem, điều này có được ở tất cả những khẩu hiệu quảng cáo thành công nhất.
Tác giả  : Steve Yastrow
Số trang  : 150 trang
Năm xuất bản  : 1.9.2003
Nhà xuất bản : Select Books
Nhìn bề ngoài, dường như sự kiện nhà sản xuất hàng tiêu dùng khổng lồ Procter & Gamble (P&G) mua lại Gillette- hãng sản xuất các mặt hàng dao cạo râu, bàn chải đánh răng và pin trị giá hàng tỷ đô la- chỉ là một động thái cho phép P&G xâm nhập vào thị trường mới.
Giáo sư Holt cho rằng thành công bất ngờ của Mountain Dew trong thập niên 90 là nhờ PepsiCo đã nhanh trí kịp thời chấn chỉnh thương hiệu cho phù hợp với hoàn cảnh hiện tại. Một chiến dịch quảng cáo mới, “Do the Dew”, đã kết hợp một cách sáng tạo các môn thể thao cực kỳ mạo hiểm với hình ảnh độc đáo sáng tạo do họ tạo ra. Quảng cáo này có hình ảnh những kẻ liều lĩnh làm đủ trò mạo hiểm bên cạnh những lời bình phẩm châm biếm thờ ơ của một nhóm thiếu niên đại loại như “Done that”, “Did that”, “Doin’ it tomorrow” (“Toàn những trò cũ rích”, “Ngày mai bọn mình cũng chơi trò đó vậy”)
Vừa qua, tại Florida, Hoa Kỳ, ông Phạm Phú Ngọc Trai, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Công ty Pepsi Co VN (PCV) đã mang vinh dự về cho tập thể CBNV người VN sau 30 phút thuyết trình trước đại diện của hơn 50 quốc gia có mặt để đoạt giải nhất trong chuỗi giải thưởng cao quý nhất của Pepsi Co toàn cầu, giải thưởng DMK.
Không ai có thể là Robinson trên đảo vắng nếu muốn hoạt động và thành công trong lĩnh vực kinh doanh. Họ phải có các mối quan hệ bền chặt với khách hàng, người cung ứng, cổ đông, nhà băng, nhân viên,… và rất quan trọng là đối thủ cạnh tranh. Đối thủ cạnh tranh, họ là ai?
Cuối cùng, bạn đã được mời làm công việc mà bạn xin dự tuyển. Nhưng cho dù vui mừng như thế nào thì việc bạn quyết định nhận lời nhanh chóng là một điều không hay.
Câu chuyện từ Tạp chí The Wall Street Journal dưới đây là bài học về đặc điểm thị trường và doanh nghiệp Trung Quốc khi họ đặt chân vào ngưỡng cửa WTO.
Cùng với quảng cáo, PR (quan hệ công chúng) dù du nhập vào Việt Nam chưa bao lâu nhưng đã khẳng định vị thế quan trọng trong chiến lược tiếp thị của doanh nghiệp, thậm chí, tác giả Alries & Laura Ries còn khẳng định rằng “Quảng cáo thoái vị, PR lên ngôi“ trong cuốn sách cùng tên mới ra mắt độc giả Việt Nam. Nhưng thực tế có hoàn toàn như vậy?
Giờ đây bạn có thể dễ dàng tìm thấy những khách hàng rất hứng thú trong việc phát triển trang web cho công ty của mình và họ luôn ở trong tư thế sẵn sàng cùng bạn bắt tay vào việc. Tuy vậy, trong số đó tôi nhận thấy rằng có một vài khách hàng thường bỏ quên những nguyên tắc xây dựng thương hiệu quan trọng.
Khi nào các công ty chấp nhận sự xuống dốc, sự già nua của một thương hiệu? Khi nào các công ty cần phải tái tạo sức sống mới cho một thương hiệu? Đây là những câu hỏi khó khăn cho bất kỳ một doanh nghiệp nào khi khách hàng của họ luôn thay đổi nhu cầu một cách thường xuyên.
Trang chủ   |   Liên hệ   
© Copyright 2004 - LANTABRAND - Total Brand Solution™
Giấy phép ICP của Bộ Văn hóa Thông tin số 150/GP-BC.
Vui lòng ghi rõ nguồn lantabrand.com khi bạn phát hành lại thông tin từ website này