
Tổng công ty Dệt May Việt Nam đang gấp rút hoàn thiện đề án phát triển thành tập đoàn dệt may Việt Nam để trình Thủ tướng Chính phủ trong thời gian tới.
Đề án tập đoàn sẽ tập trung vào khắc phục những hạn chế cơ bản của mô hình Tổng công ty 91 vốn có nhiều bất cập sau 10 năm hoạt động.
Hướng tới tập đoàn đa sở hữu dệt may
Mục tiêu thành lập tập đoàn dệt may theo mô hình Cty Mẹ – con của Tổng công ty Dệt may Việt Nam sẽ trở thành tập đoàn đa sở hữu hàng đầu kể cả về quy mô sản xuất kinh doanh lẫn sức cạnh tranh sản phẩm trong khu vực Đông Nam Á hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực dệt may. Theo đó, mục tiêu đến năm 2010 tập đoàn sẽ có một số thương hiệu sản phẩm hàng đầu trong nước và khu vực, có kim ngạch xuất khẩu trên 3 tỷ USD vào năm 2010, có quy mô vốn điều lệ hơn 7 nghìn tỷ đồng và sử dụng hơn 200.000 lao động.
Tập đoàn dệt may Việt Nam có số lượng lớn các đơn vị thành viên, sử dụng nhiều lao động, đa sở hữu, có sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế trong và ngoài nước, trong đó sở hữu nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Mô hình tập đoàn Dệt may Việt Nam sẽ gồm Cty mẹ; các công ty con và công ty liên kết, trong đó, công ty mẹ giữ vai trò chi phối các công ty khác về vốn, thị trường, thương hiệu…
Cty mẹ được hình thành trên cơ sở kế thừa từ Tổng công ty Dệt May Việt Nam hiện tại và giữ vai trò lãnh đạo tập đoàn. Công ty mẹ có pháp nhân đầy đủ và được gọi là Tập đoàn Dệt May Việt Nam, thực hiện các chức năng vừa là một công ty đầu tư vốn, vừa thực hiện kinh doanh và cung cấp các dịch vụ cho các công ty thành viên…
Trong tập đoàn sẽ có một số công ty có quy mô lớn đã được chuyển đổi tổ chức theo mô hình Công ty mẹ – công ty con. Ngoài ra, tập đoàn bao gồm cả các thành viên có các quan hệ lợi ích khác ngoài vốn, là các đối tác kinh doanh, có quan hệ ràng buộc lợi ích về thương hiệu, uy tín… ràng buộc với nhau bằng hợp đồng sử dụng thương hiệu, uy tín và Điều lệ tổ chức hoạt động của Vinatex. Tập đoàn vừa thực hiện được sự gắn kết các công ty thành viên theo cơ cấu Cty mẹ – Cty con, vừa tập hợp được đông đảo các đơn vị. Do đó, tập đoàn là nòng cốt của ngành dệt may trong quan hệ các đối tác, nhất là các đối tác lớn nước ngoài.
Tập đoàn hoạt động kinh doanh đa ngành nghề, trong đó công nghiệp dệt may là chính. Cơ cấu tổ chức của tập đoàn dự kiến ban đầu sẽ gồm 6 công ty đang hoạt động theo mô hình mẹ - con (Cty Dệt may Hà Nội; Cty Dệt Phong Phú; Cty Dệt may miền Trung Hòa Thọ; Cty Dệt Nam Định; Cty May Việt Tiến; Cty may Nhà Bè) và 6 Cty TNHH một thành viên; 19 công ty cổ phần liên doanh Vinatex giữ trên 50% vốn; 13 các công ty liên kết.
Theo lộ trình, đến năm 2008 tập đoàn Vinatex sẽ gồm các đơn vị sự nghiệp, 18 công ty cổ phần lớn giữ cổ phần chi phối và 30 đơn vị Vinatex giữ cổ phần dưới 50%. Đến năm 2010, con số này là 10 đơn vị và 37 đơn vị.
Tập đoàn thống nhất lấy tên VINATEX là thương hiệu của tập đoàn và sẽ tập trung thiết kế một số loại sản phẩm có đẳng cấp cao với nhãn mác mang tên VINATEX. Ngoài ra, các công ty cũng xây dựng thương hiệu sản phẩm chủ lực của mình.
Những hạn chế cơ bản sẽ được khắc phục
Tổng công ty Dệt may Việt Nam hiện là Tổng công ty 91 với hơn 60 đơn vị thành viên, trong đó có nhiều đơn vị có quy mô lớn, hoạt động theo mô hình công ty mẹ – công ty con như Công ty May Việt Tiến; Công ty Dệt May Hà Nội; Công ty Dệt Phong Phú… Tính đến thời điểm này, phần lớn các công ty thuộc Tổng công ty đã thực hiện cổ phần hóa và sẽ tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hóa.
Theo ông Lê Quốc Ân, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng công ty Dệt May Việt Nam, điều này đòi hỏi Tổng công ty phải được cơ cấu lại theo một mô hình phù hợ để quản lý, và điều hành cả hệ thống. Việc chuyển đổi sang mô hình tập đoàn sẽ tạo nên một tổ chức đủ lực cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt hiện nay. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là mô hình tập đoàn phải khắc phục được những điểm vướng của mô hình Tổng công ty 91 vốn đã có nhiều bất cập sau 10 năm hoạt động, tránh tình trạng “bình mới rượu cũ”.
Theo bản đề án trình Bộ Công nghiệp vừa qua, mô hình tập đoàn dệt may sẽ khắc phục những hạn chế cơ bản về tổ chức, lao động tiền lương; về tài chính; về kế hoạch thị trường; về đầu tư; về quản lý tiêu chuẩn, định mức và quản lý môi trường.
Với mô hình Tổng công ty 91, quan hệ giữa Tổng công ty và các đơn vị thành viên chủ yếu là quan hệ hành chính. Khi thành lập Tổng công ty sẽ bao gồm các đơn vị do Nhà nước cấp vốn 100%, không khuyến khích được các nguồn vốn xã hội. Sự gắn bó với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường… không rõ ràng. Từ đó, dẫn đến mục tiêu tích tụ, tập trung tài sản, tài chính ở Tổng công ty và các công cụ chi phối như thương hiệu, thị trường chưa mạnh.
Với mô hình tập đoàn, điều này được khắc phục bởi quan hệ sở hữu giữa tập đoàn và các công ty con là quan hệ chủ sở hữu đầu tư. Các công ty con là các đơn vị hoạt động theo Luật doanh nghiệp do tập đoàn đầu tư vốn ở nhiều mức độ khác nhau.
Đặc biệt, về tổ chức sản xuất kinh doanh, tập đoàn thực hiện quản trị các công ty thành viên trên cơ sở phân nhóm sản phẩm với 8 nhóm: nguyên liệu, dệt kim, dệt thoi, may và phụ liệu, bán lẻ, dịch vụ thương mại, kinh doanh hạ tầng và hoạt động liên kết. ở mỗi nhóm có thể có đến 1-2 công ty nòng cốt và một số các công ty vệ tinh cùng nhóm hình thành những nhóm sản phẩm. Trong từng nhóm, tập đoàn cử lãnh đạo tập đoàn vào vị trí chủ chốt các công ty này để trực tiếp quản trị và chỉ đạo có hiệu quả thực hiện chuyên môn hóa và hợp tác theo nhóm và giữa trong nội bộ Tập đoàn.
Điều này sẽ khắc phục những khó khăn về tổ chức chuyên môn hóa và hợp tác sản xuất kinh doanh trong Tổng công ty trước đây.
Để khắc phục được sự không rõ ràng, minh bạch về quan hệ sở hữu của mô hình Tổng công ty 91, phương án mà đề án tập đoàn đưa ra kiến nghị phân định rõ Chính phủ là đại diện Chủ sở hữu, Bộ Công nghiệp là cơ quan được Đại diện Chủ sở hữu uỷ quyền trên một số lĩnh vực và là cơ quan quản lý Nhà nước về phát triển và an toàn công nghiệp. Các bộ khác là cơ quan quản lý Nhà nước về một số lĩnh vực liên quan. Hội đồng quản trị của Công ty mẹ là đại diện trực tiếp Chủ sở hữu của tập đoàn. Với tư cách là hạt nhân của tập đoàn, Cty mẹ đề ra các quy chế và một hệ thống các định mức kinh tế kỹ thuật.
Một trong những hạn chế về tài chính của mô hình Tổng công ty 91 là Nhà nước vừa giao vốn cho Tổng công ty vừa có thể bổ sung vốn trực tiếp cho đơn vị thành viên khiến Tổng công ty không thể làm đại diện chủ sở hữu thực sự. Mô hình tập đoàn sẽ được khắc phục bằng cách Nhà nước chỉ đầu tư vốn cho tập đoàn mà không đầu tư trực tiếp vào các công ty con. Tập đoàn sẽ đầu tư vốn vào các công ty con, và việc tăng, giảm vốn, đầu tư vốn sẽ do tập đoàn quyết định theo nguyên tắc thương mại.
Mối quan hệ tài chính giữa Công ty mẹ tập đoàn với các công ty con là mối quan hệ đầu tư tài chính. Công ty mẹ tập trung được lợi nhuận từ chia cổ tức và có thể dùng nguồn này để tập trung đầu tư vào các mũi nhọn theo chiến lược của Tập đoàn. Về kế hoạch thị trường, trước đây nhà nước giao kế hoạch cho Tổng Công ty, Tổng công ty giao kế hoạch cho các đơn vị thành viên sẽ được thay bằng việc giao kế hoạch sản xuất kinh doanh theo khả năng thị trường.
Theo TBKTVN