Chuyên mục
  Thông tin thương hiệu
  Kiến thức thương hiệu
  Tình huống thương hiệu
  Download chuyên đề
  Giới thiệu Agency, Freelance
  Thiết kế & Thương hiệu
  Quảng cáo & Thương hiệu
  Thương hiệu trong phim
  Thương hiệu hàng đầu
  Sách thương hiệu
  Thuật ngữ thương hiệu
  Nhượng quyền thương hiệu
  Đo lường thương hiệu
  Tìm kiếm
 
  Trang chủ  >  Thông tin thương hiệu >
Gót chân asin của 2 người khổng lồ Trung - Ấn
Cập nhật 29-8-2005 17:43

Không quốc gia đang phát triển nào có tốc độ phi mã nhanh bằng Trung Quốc và Ấn Độ. Cả hai quốc gia đông dân nhất thế giới có nhiều nét giống nhau: sự hiện diện của các công ty đa quốc gia; sự đầu tư mạnh vào công nghệ thông tin; sự hợp lý trong chính sách kêu gọi đầu tư nước ngoài; sự đúng đắn trong chiến lược giáo dục…



Và cả hai đều được đánh giá là động lực cho sự tăng trưởng kinh tế toàn cầu cũng như thay đổi diện mạo cán cân kinh tế thế giới. Mổ xẻ tiềm lực cũng như sự tiềm ẩn bất ổn trong hiện tượng phát triển Trung Quốc và Ấn Độ là cần thiết cho tham khảo kinh nghiệm đối với một “con rồng ẩn mình” (cách nói của Newsweek) như Việt Nam.

Ngọa hổ tàng long

Hai thập niên qua, Trung Quốc tăng trưởng ở tỉ lệ chóng mặt 9,5%/năm và Ấn Độ 6%/năm. Business Week (22/8/2005) cho biết hai quốc gia châu Á này tiếp tục duy trì tốc độ phát triển trung bình 7-8% trong vài thập niên tiếp theo. Và sự cạnh tranh Trung Quốc - Ấn Độ sẽ tạo ra động lực thay đổi bộ mặt thế giới thế kỷ 21, như cách mà Nhật từng thực hiện trong thế kỷ 20.

Theo đà tiến như hiện thời, Ấn Độ có thể qua mặt Đức để trở thành nền kinh tế thứ ba thế giới. Vào giữa thế kỷ 21, Trung Quốc có thể vượt qua Mỹ để trở thành sức mạnh kinh tế số một hành tinh. Đến thời điểm đó, Trung Quốc-Ấn Độ sẽ chiếm ½ xuất lượng toàn cầu.

Bộ ba Mỹ-Trung Quốc-Ấn Độ sẽ cùng nhau chiếm lĩnh tất cả nền kinh tế thế giới. Theo nhận xét BusinessWeek, điều khiến Ấn Độ và Trung Quốc trở thành cường quốc kinh tế là họ học hỏi lẫn nhau. Cả hai đều đầu tư mạnh vào ngành nghề kỹ năng cao liên quan kỹ thuật và quản lý.

Hiện thời, Trung Quốc đang thống trị khu vực sản xuất hàng loạt và Ấn Độ chiếm lĩnh phần mềm, thiết kế công nghiệp, dịch vụ và công nghiệp chính xác.

Sự phát triển Ấn Độ-Trung Quốc có vẻ vững đến mức nhà nghiên cứu Navi Radjou thuộc Forrester Research Inc tin rằng nếu hai quốc gia cùng bắt tay, họ sẽ ngồi trên ngai vàng công nghiệp kỹ thuật thế giới. Trong thực tế, Ấn Độ-Trung Quốc đã hợp tác trong một số lĩnh vực.

Mậu dịch song phương hàng năm dù chỉ đạt 14 tỷ USD nhưng sự có mặt của các công ty đa quốc gia đã đẩy nhanh sự liên hợp giữa hai khối kinh tế khổng lồ này (thiết bị được sản xuất tại Trung Quốc nhưng bo mạch và phần mềm được làm tại Ấn Độ). Chi phí nghiên cứu rẻ tại Ấn Độ cùng chi phí sản xuất rẻ tại Trung Quốc đã giúp ra đời dòng sản phẩm “chế tạo tại Trung Quốc-Ấn Độ” và điều đó cho thấy sự liên kết gián tiếp giữa hai nền kinh tế năng động nhất châu Á đang bắt đầu định hình.

Trung Quốc và Ấn Độ, trên bề mặt, có đủ nền móng cơ sở để bật lên thay thế Mỹ và châu Âu: tổng số kỹ sư và nhà khoa học Trung Quốc-Ấn Độ tốt nghiệp mỗi năm lên đến nửa triệu trong khi Mỹ chỉ có 60.000. Viện Toàn cầu McKinsey dự báo số nhà nghiên cứu trẻ Trung Quốc-Ấn Độ sẽ tăng 35%, lên 1,6 triệu vào trước năm 2008.

Trong cùng thời gian, nguồn cung ứng nhân sự khoa học Mỹ có thể giảm 11%, còn 760.000. Trung Quốc và Ấn Độ hưởng lợi thế tiếp nhận công nghệ cao cũng như kinh nghiệm phương Tây. Như Mỹ trong thập niên 1980-1990, Trung Quốc và Ấn Độ hiểu rằng sáng tạo là yếu tố then chốt cho tăng trưởng. Và sự xuất hiện một thế hệ người tiêu dùng mới càng đẩy nhanh sự bùng nổ của nền kinh tế đặt nền móng từ sáng tạo.

Năm 2005, thị trường xe hành khách Trung Quốc dự kiến đạt 3 triệu (thứ ba thế giới) và hiện nước này có “phần nền” lớn nhất thế giới cho thị trường điện thoại di động với 350 triệu người đăng ký (có thể tăng gần 600 triệu vào trước năm 2009).

Hai năm nữa, Trung Quốc có thể qua mặt Mỹ trở thành nơi có số hộ dân được kết nối băng thông rộng nhiều nhất. Ấn Độ tương tự, từ năm 2000 đến nay, số thuê bao điện thoại di động đã tăng từ 5,6 triệu lên 55 triệu.

Điều đáng chú ý hơn nữa là thái độ sống của giới trẻ Ấn Độ-Trung Quốc. Như thanh niên Mỹ cách đây vài thập niên, giới trẻ Ấn Độ-Trung Quốc bây giờ cũng tự tin, hoài bão, tham vọng và lạc quan về tương lai. Khuynh hướng thích cái mới và tiếp nhận liên tục cái mới đã thể hiện điều này (tại Trung Quốc, thời gian trung bình sử dụng một mẫu điện thoại di động chỉ ba tháng).

“Chúng tôi tin rằng Trung Quốc vài năm nữa sẽ từ kẻ theo sau trở thành người đi trước trong việc định dạng xu hướng tiêu dùng sản phẩm điện tử”, đó là phát biểu của Leon Husson, phó chủ tịch điều hành Philips Semiconductors.

Và đâu là những nhược điểm của hai gã khổng lồ?

Trung Quốc - Ấn Độ hiện thời chiếm vỏn vẹn 6% GDP toàn cầu (bằng ½ Nhật Bản) và mỗi năm có hàng triệu người tiếp tục được bổ sung cho lực lượng lao động.

Tuy nhiên, do yêu cầu về lương cao tăng nhanh (cho ngành nghề kỹ thuật cao), lợi thế nhân công giá rẻ tất nhiên không tồn tại mãi. Đến nay, Trung Quốc - Ấn Độ vẫn chưa đủ lực tạo ra những công ty đẳng cấp cao như Samsung, Nokia, Toyota hoặc Boeing…

Do chính sách hạn chế sinh đẻ, lực lượng lao động Trung Quốc sẽ đạt 1 tỷ người vào năm 2015 nhưng sẽ giảm dần sau đó và họ phải nuôi một tỉ lệ người già đáng kể. Ấn Độ hiện có gần 500 triệu người dưới 19 tuổi. Đến giữa thế kỷ 21, dân số Ấn Độ có thể đạt 1,6 tỷ (nhiều hơn 220 triệu nhân công so với Trung Quốc) và vấn đề này cũng tiềm tàng nhiều bất ổn cho phát triển.

Xét kỹ hơn, có thể thấy bản thân Trung Quốc tiềm ẩn không ít nguy cơ trong cái gọi là “nội lực kinh tế”.

Cần biết, có đến 57% hàng xuất khẩu Trung Quốc thật ra được sản xuất tại các công ty nước ngoài đóng tại nước này và Trung Quốc tiếp tục chậm chạp trong lĩnh vực phần mềm (át chủ bài cốt lõi của công nghệ thông tin). Dù có 35 trường đại học chuyên ngành lập trình với khả năng cho ra trường 200.000 kỹ sư phần mềm mỗi năm, Trung Quốc vẫn không có một đội ngũ chuyên gia tầm cỡ thế giới.

Soạn: AM -45639 gửi đến 996 để nhận ảnh này
Các ngân hàng Trung Quốc phải chấp nhận 20% khoản nợ là khó đòi, còn ngân hàng tư Ấn Độ cũng hoạt động không hiệu quả.

Ngoài ra, còn có một thực trạng: thay vì tập trung nghiên cứu phát triển, nhiều công ty “kỹ thuật cao” vẫn chú tâm rình rập ăn cắp sản phẩm của thiên hạ.

Newsweek (22/8/2005) cho biết Trung Quốc bắt đầu có dấu hiệu khựng lại trong phát triển. Một trong những bằng chứng rõ nhất là sự giảm nhu cầu nhập dầu (giảm 1,3% dầu thô và 21% dầu lọc trong nửa đầu năm 2005).

Tỉ lệ phát triển 9,5% năm 2004 của Trung Quốc sẽ trở nên bớt ấn tượng hơn khi người ta biết rằng 850 tỷ USD (1/2 GDP) đã được dùng cho các ngành công nghiệp nặng (ít lợi nhuận) chẳng hạn thép, công nghiệp xe hơi và xây dựng nhà cửa.

Nhà máy Trung Quốc sử dụng nhiên liệu kém hiệu quả gấp 5 lần phương Tây và hơn 20% nợ ngân hàng đều thuộc loại trầm kha khó đòi. 2/3 trong 13.000 công ty có đăng ký kinh doanh tại Trung Quốc đã không làm ăn có lãi - theo Chủ tịch Viện Kiểm toán quốc gia Trung Quốc Chen Xiaoyue. “Chúng tôi xây nhiều đường sá và nhà máy công nghiệp nhưng chúng tôi cũng hy sinh quá nhiều”, Chen nói.

So với Trung Quốc, Ấn Độ có phần nhỉnh hơn về tính ổn định. Do áp dụng mô hình quản lý ít bị chi phối bởi sự can thiệp nhà nước, tại Ấn Độ, ít có chỗ cho sự thao túng của viên chức tham nhũng, ít có chỗ cho hoang phí “của chùa” (tài sản nhà nước)…

Ngoài ra, Ấn Độ cũng có hệ thống ngân hàng tư hoạt động hiệu quả. Bảng dữ liệu Compustat của Standard & Poor cho thấy trong 346 công ty hàng đầu Ấn Độ-Trung Quốc, Ấn Độ có nhiều công ty hoạt động tốt hơn.

Tổng quát, người hùng nào cũng có điểm yếu (kể cả sức mạnh kinh tế lớn nhất thế giới là Mỹ) và riêng với Trung Quốc, có thể lọc ra 5 yếu tố quan trọng đang là rào cản của sự phát triển.

Thứ nhất, đó là sự tụt hậu nghiêm trọng trong kinh tế nông nghiệp. Thứ hai, đó là nguồn vốn và tỉ lệ cho tái đầu tư (tập trung quá mạnh cho xây dựng hạ tầng). Thứ ba, đó là sức ép lạm phát (chỉ số tiêu dùng chỉ tăng 2,8% trong quý một năm 2005 do giá cả tăng nhanh bởi biến động từ thị trường dầu...).

Thứ tư, đó là sức ép nghiêm trọng của nhu cầu năng lượng. Và cuối cùng, đó là sự đầu tư phát triển không đồng đều giữa thành thị và nông thôn.

Mỹ và nhiều nước châu Âu đã mất cả thế kỷ để có thể tạo ra bức tranh cân đối giữa đời sống đô thị và nông thôn (tỉ lệ chênh lệch tiện nghi sinh hoạt giữa thành phố và nông thôn Mỹ là cực thấp), vậy Trung Quốc chắc chắn cũng cần ngần ấy thời gian hoặc hơn để rút lại khoảng cách đang tồn tại (một cách) thực tế này.

Theo Vietnamnet

Trang chủ
Lưu trang này
In bài này
Gởi cho bạn bài này
Phản hồi bài viết này
Quay lại
CyVee Bookmark
 Các tin khác
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
  
  Tài trợ bởi
  Các chủ đề liên quan
Hyundai là một trong những bằng chứng điển hình nhất về khả năng đóng vai trò và phô trương ảnh hưởng của thương hiệu trên chính trường.
Nói đến Gillette là người ta biết đến sản phẩm dao cạo râu mà giới mày râu trên toàn trái đất này đều ưa chuộng. Nhưng có lẽ không thật nhiều người biết thương hiệu nổi tiếng đó bắt nguồn và chính là tên của một người bán rong có tên King Cam Gillette.
Theo bản năng, mỗi ông chủ của một doanh nghiệp đều hiểu được tầm quan trọng của tài sản phương hiệu, nhưng có thể họ chưa nhận ra được bản chất, ý nghĩa của nó. Về phương diện marketing, tài sản thương hiệu là tất cả những gì giúp phân biệt thương hiệu của bạn với những thương hiệu khác
Hầu hết mọi người đều nghĩ thương hiệu được tạo ra thông qua marketing, quảng cáo với những mẩu quảng cáo thú vị, những thông điệp đủ sức ảnh hưởng.
Những cửa hàng tiện lợi chắc phải là một hằng số trong vũ trụ rộng lớn này. Dường như luôn có  một cửa hàng như vậy ở mỗi góc đường khi bạn thấy thèm một gói snack có hại cho sức khỏe hay một món đồ uống ngọt lịm có các thành phần nguy hại. Dù các sản phẩm có thể thay đổi, nhưng cơ bản là bạn biết mình có thể có thứ gì: bất cứ thứ gì mà bạn biết là cần thiết cho cuộc sống.
Bây giờ hãy ngừng lại ở đây một phút…đây được xem là tạp chí điện tử được quan tâm nhiều nhất trong thị trường điện tử. Đúng vậy, điều mà tôi muốn bạn chú ý đến là vấn đề quan trọng mà công ty bạn phải đối mặt. Đó là sự tồn tại trong thị trường!
Trẻ em là một phần quan trọng trong xã hội. Tuy không thể nắm bắt được tất cả các hoạt động sản xuất như người lớn, nhưng chúng có ý kiến, phong cách sống, quyền lợi và đặc biệt là chúng có những chuẩn mực được thiết lập bởi cộng đồng xã hội của mình.
Toyota đã phát triển mạnh mẽ nhờ những giá trị cốt lõi, đó chính là sản xuất ra những chiếc xe có chất lượng cao nhất, Toyota vẫn tiếp tục vượt trên các đối thủ cạnh tranh. Người sáng lập ra công ty luôn tin rằng việc luôn luôn cải tiến theo phương pháp Kaizen đã giúp Toyota luôn tiến về phía trước. Những giá trị này sẽ tiếp tục là nhân tố giúp cho sự thành công trong kinh doanh của công ty.
Dù tốt hay xấu, những tiêu chuẩn trong gói đánh giá thành tích của bạn đều được thể hiện qua các con số. Nhưng vị quản lý nào chỉ chạy theo các con số ấy thường nhận hàng đống dữ liệu kém chất lượng.
Theo Công ty nghiên cứu thị trường TNS - Việt Nam, các điều tra gần đây cho thấy mức chi phí nghiên cứu thị trường của các doanh nghiệp Việt Nam rất thấp.
Tài sản thương hiệu gồm 5 thành tố chính đó là: sự trung thành thương hiệu, sự nhận biết thương hiệu, chất lượng cảm nhận, thuộc tính thương hiệu, các yếu tố sở hữu thương hiệu khác. Việc tạo dựng tài sản thương hiệu đòi hỏi thời gian, nổ lực và tiền bạc. Khi đã tạo được thương hiệu mạnh công ty có được rất nhiều lợi ích nhưng nếu không duy trì thì thương hiệu sẽ nhanh chóng bị mờ nhạt.
Bạn đã bao giờ nghe về Facebook từ giới trẻ hay một người bạn của mình hoặc ít ra là biết về nó trong một lĩnh vực kinh doanh nào đó không? Nếu bạn cho rằng Facebook chỉ là một trang web dành cho học sinh - sinh viên để chia sẻ câu chuyện và hình ảnh thì bạn đã lầm to.
 
Trang chủ   |   Liên hệ   
© Copyright 2004 - LANTABRAND - Total Brand Solution™
Giấy phép ICP của Bộ Văn hóa Thông tin số 150/GP-BC.
Vui lòng ghi rõ nguồn lantabrand.com khi bạn phát hành lại thông tin từ website này