
Tạp chí Fortune vừa công bố danh sách 500 công ty lớn nhất thế giới (Global 500) được bình chọn hàng năm dựa trên doanh thu và lãi của năm 2004. Và không phải đại công ty nào cũng kinh doanh thành công.
Có những trường hợp làm ăn rất tốt, như trong lĩnh vực dầu khí, nhưng cũng có những trường hợp phải trải qua một năm khó nhọc. Tuy nhiên, nhìn chung mức doanh thu của các công ty đều cao hơn năm trước.
Về tổng thể, năm 2004 là một năm làm ăn khá phát đạt của các công ty trong Global 500, đặc biệt tại châu Âu và châu Á, theo như nhận định của Ajay Kapur, nhà chiến lược vốn cổ phần toàn cầu của Citigroup Smith Barney ở New York. Tổng doanh thu của Global 500 tăng 13%, đạt mức 16.798 tỉ đô la Mỹ, lợi nhuận tăng đến 27%, đạt 930 tỉ đô la. Doanh thu của công ty xếp hạng cuối cùng trong danh sách năm nay cũng cao hơn năm ngoái đến 15%, đạt 12,4 tỉ đô la Mỹ. Mức doanh thu này lớn hơn tổng sản phẩm quốc nội của Jordan hoặc Jamaica.
Đây cũng là năm đặc biệt thuận lợi đối với các công ty dầu mỏ, do giá dầu thô liên tục tăng. Doanh thu của BP (hạng 2 trên Global 500) đã tăng 23% so với năm trước, lớn hơn nhiều so với mức tăng 10% của Wal-Mart (năm thứ tư liên tiếp xếp hạng 1). Nhờ đó, doanh thu của công ty dầu mỏ Anh này đạt đến 285,1 tỉ đô la Mỹ, chỉ ít hơn Wal-Mart 2,9 tỉ đô la Mỹ. Theo Tổng giám đốc BP John Browne, đây là bước nhảy vọt không ngờ. Năm 1995, trước khi mua lại Amoco và Arco, BP chỉ xếp hạng 31 với 51 tỉ đô la Mỹ doanh thu. Song song với doanh thu, lãi của BP cũng tăng 50%, đạt 15,4 tỉ đô la Mỹ.
Một công ty dầu mỏ khác là Exxon Mobil (hạng 3) cũng có lãi và lãi cao nhất thế giới, với mức lợi nhuận 25,3 tỉ đô la Mỹ. Trong khi đó, Royal Dutch/ Shell (hạng 4) đã báo cáo thu nhập tăng 33% và lãi tăng vọt đến 46%. Total (hạng 10) và Chevron (hạng 11) cũng đều có mức tăng doanh thu cao, đến khoảng 29%.
Nhiều công ty xe hơi châu Âu và châu Á cũng hoạt động khá thành công. Daimler Chrysler (hạng 6) và Toyota Motor (hạng 7) đã vượt qua Ford (hạng 8), đẩy công ty xe hơi của Mỹ này xuống hai bậc so với năm trước. Lợi nhuận của Daimler Chrysler đã tăng lên sáu lần, đạt 3,1 tỉ đô la Mỹ. Toyota thì đạt lợi nhuận đến 10,9 tỉ đô la Mỹ, nhiều hơn cả General Motor (hạng 5), Ford và Daimler Chrysler cộng lại. Một trường hợp đáng chú ý khác là Nissan (hạng 29) có mức lãi đạt 4,8 tỉ đô la Mỹ.
Những gương mặt mới
Một số công ty đã nỗ lực không ngừng để hướng đến quy mô ngày càng lớn hơn. Một thuận lợi của các đại công ty là có khả năng triển khai những chiến lược chuyển đổi tốn kém hay mạo hiểm. Chẳng hạn, một thiết bị trong ngành dầu khí có thể trị giá nửa tỉ đô la Mỹ. Thiết kế một máy bay mới hay phát triển một loại dược phẩm mới còn tốn kém hơnnhiều. Chính những công ty này mới có thể tạo ra những chuyển biến hoặc tái tạo tận gốc rễ một lĩnh vực kinh doanh nào đó, thậm chí cả một ngành công nghiệp.
Điều đó có thể giúp giải thích về việc nhiều công ty Trung Quốc được đưa vào Global 500. Năm 1995, Trung Quốc chỉ có ba công ty, nhưng năm nay được 16 công ty. Hai công ty mới vào danh sách là China Southern Power Grid và China First Automotive Works. Tuy nhiên, Công ty Xe hơi Shanghai Automotive lại bị rơi khỏi Global 500.
Trong số những gương mặt mới lần đầu tiên được ghi tên vào Global 500 có Công ty Năng lượng UES (Nga, hạng 248), Mittal Steel (Hà Lan, hạng 253), Công ty Năng lượng hạt nhân Areva (Pháp, hạng 449), Công ty Bia Heineken (Hà Lan, hạng 497)&Công ty Dầu mỏ Yukos của Nga (hạng 359 năm ngoái) đã rơi ra khỏi danh sách vì những bất ổn quanh các cáo buộc trốn và gian lận thuế.
Nhu cầu tiêu thụ các nguyên vật liệu cơ bản đang tăng cao trên thế giới đã thúc đẩy một số công ty trong lĩnh vực này gia tăng đáng kể quy mô hoạt động. Trong số đó có các công ty Nhật Asahi Glass, Kobe Steel và Komatsu. Công ty Khai khoáng BHP Billiton (hạng 241) đã nhảy đến 100 bậc trên danh sách năm nay. Công ty Sản xuất thép Posco (Hàn Quốc, hạng 276) cũng đã nhảy 85 bậc, Shanghai Baosteel Group (Trung Quốc, hạng 309) nhảy 63 bậc.
Mỹ vẫn là nước đóng góp số công ty nhiều nhất cho Global 500 (176 công ty), nhưng Tokyo mới là thành phố có số công ty tham gia nhiều nhất so với các thành phố khác trên thế giới (56), nhiều gấp đôi Paris (27), hơn hẳn London (24), New York (22). Các công ty Pháp và Anh có kết quả kinh doanh tốt hơn các công ty Nhật.
Dấu ấn nhà quản lý
Rosabeth M. Kanter, Giáo sưtrường Kinh doanh Harvard, đã nhận xét là sự thành công của Wal-Mart chủ yếu do công nghệ cao. Nhờ áp dụng công nghệ hiện đại, Wal-Mart đã quản lý tốt hệ thống 5.350 cửa hàng ở nhiều nước, vươn lên trong cạnh tranh.
Wal-Mart là một trong những công ty sử dụng kỹ thuật nhận diện bằng tần số vô tuyến lớn nhất thế giới. Kỹ thuật này thông tin cho các nhóm bán hàng biết những mặt hàng đang cạn nguồn dự trữ và cần được bổ sung. Công ty cũng duy trì một cơ sở dữ liệu rộng khắp, cho phép các nhà thống kê ngồi ở văn phòng chính viết các phần mềm xác lập những mặt hàng bán lẻ cần thiết cho từng khu vực. Chẳng hạn, qua phân tích những mặt hàng bán chạy vào các thời điểm bão lụt trong mấy năm qua, Wal-Mart đã chuẩn bị tốt những mặt hàng cần cung cấp đột xuất cho cư dân bang Florida trong mùa mưa bão.
Trong nhiều trường hợp khác, tầm nhìn và kỹ năng quản lý của nhà lãnh đạo công ty đã có dấu ấn rõ nét lên kết quả hoạt động kinh doanh. Kết quả kinh doanh rất tốt của Công ty Nissan trong năm qua đã thúc đẩy Tổng giám đốc Carlos Ghosn nhận thêm trách nhiệm điều hành hãng xe Renault (hạng 80) của Pháp, đang chiếm lĩnh 45% thị trường xe hơi Nhật. Ông Ghosn là người đầu tiên lãnh đạo cùng lúc hai công ty trong Global 500. Phương châm quản lý của Ghosn, như lời ông nói, là "có một chiến lược rõ ràng, mạnh dạn giao việc và giao quyền cho nhân viên, và một tổ chức nghiêm ngặt".
Rõ ràng quản lý một công ty có tên trong Global 500 không dễ dàng. David Garvin, giáo sư chuyên nghiên cứu các đại công ty của trường Kinh doanh Harvard, cho rằng những công ty này lớn đến mức tương đương với những quốc gia nhỏ, nên cần những nhà lãnh đạo bỏ ra nhiều tâm trí, sức lực, có sự quan tâm và định hướng tốt. Theo ông, xét những trường hợp thành công nhất như BP, General Electric hay Wal-Mart, có thể nhận thấy các nhà điều hành đều có khả năng trên ba mức độ. Họ có thể vạch ra một tầm nhìn xa, phát triển các hệ thống và chính sách để triển khai tầm nhìn đó, và tác nghiệp tại địa bàn để lèo lái các hệ thống đã được xác lập.
Tổng giám đốc Browne của BP nhấn mạnh đến sự tập trung, trách nhiệm giải trình và sự đo lường như là các yếu tố chủ lực dẫn đến thành công của công ty.Ông đã không ngừng cân nhắc xem các dự án được BP đầu tư có làm chệch mục tiêu phát triển của công ty hay không. Đồng thời, ông tập trung vào một hệ thống quản lý dựa trên cơ sở các hợp đồng thực hiện chi tiết, yêu cầu các nhà quản lý chịu trách nhiệm giải trình về những kết quả riêng biệt.
Quan điểm của Browne là "không thể có chuyện hai người cùng chịu trách nhiệm về một việc". Theo ông, giống như nhiều đại công ty khác, BP hoạt động tốt một phần là do chỉ tập trung vào lĩnh vực khai thác và sản xuất dầu và khí. Đó là lý do khiến công ty phải cắt bỏ phân nhánh hóa chất. "Khi trăm hoa đều đua nở thì thật khó mà quản lý", ông nói.
Một minh họa khác là GE (hạng 9), đứng hạng tư về mức lãi, đạt kết quả xuất sắc trong nhiều lĩnh vực kinh doanh. Tổng giám đốc điều hành Jeff Immelt đang đẩy mạnh đổi mới bằng cách gắn kết các khoản tiền thưởng và lợi tức chia thêm với những ý tưởng mới và với sự hài lòng của khách hàng. Trước ông, Tổng giám đốc Jack Welch đã phát triển một hệ thống theo dõi, đo lường và quản lý nguồn vốn nhân lực của GE. Người tiền nhiệm của Welch là Reginald Jones thì chấp nhận một hệ thống đo lường tài chính duy nhất. Điểm nổi bật nhất của công ty này là mỗi người đều dựa vào những người khác để cùng sáng tạo ra một nền văn hóa quản lý năng động.
|
STT |
Tên công ty |
Doanh thu |
Lãi
(Tỉ đô la Mỹ) |
|
1 |
Wal-Mart Stores |
287,989 |
10,267 |
|
2 |
BP |
285,059 |
15,371 |
|
3 |
Exxon Mobil |
270,772 |
25,330 |
|
4 |
Royal Dutch/Shell Group |
268,690 |
18,183 |
|
5 |
General Motors |
193,517 |
2,805 |
|
6 |
Daimler Chrysler |
176,687 |
3,067 |
|
7 |
Toyota Motor |
172,616 |
10,898 |
|
8 |
Ford Motor |
172,233 |
3,487 |
|
9 |
General Electric |
152,866 |
16,819 |
|
10 |
Total |
152,609 |
11,955 |
Theo TBKTSG