Chuyên mục
  Thông tin thương hiệu
  Kiến thức thương hiệu
  Tình huống thương hiệu
  Download chuyên đề
  Giới thiệu Agency, Freelance
  Thiết kế & Thương hiệu
  Quảng cáo & Thương hiệu
  Thương hiệu trong phim
  Thương hiệu hàng đầu
  Sách thương hiệu
  Thuật ngữ thương hiệu
  Nhượng quyền thương hiệu
  Đo lường thương hiệu
  Đo lường website
  Tìm kiếm
 
  Trang chủ  >  Thông tin thương hiệu >
Nâng cao khả năng cạnh tranh từ phát triển thị trường nội địa
Cập nhật 2-8-2005 01:03

Khi bàn đến phát triển nội lực kinh tế, người ta thường nghĩ đến các biện pháp liên hệ trực tiếp đến sản xuất. Thật ra nội lực còn có thể khởi động và phát triển từ lĩnh vực tiêu thụ, nhất là khi các biện pháp kích cầu thật sự tạo được hiệu quả.



Các biện pháp kích cầu có thể tạo được hiệu quả dây chuyền và đồng thời về cả hai mặt: khuyến khích sản xuất và nâng cao tiêu thụ nhằm khai thông những bế tắc làm giới hạn khả năng phát triển của thị trường nội địa.

Những biện pháp kích cầu này một khi đã được chính quyền điều phối (chương trình hỗ trợ và biện pháp thuế khóa) một cách linh động và hợp lý, sẽ tạo cho doanh nghiệp trong nước những cơ hội thử nghiệm khả năng tồn tại và tích lũy kinh nghiệm (sản xuất, tiếp thị và phân phối) cần thiết, để có thể chuẩn bị, sẵn sàng đối diện với cơn lốc cạnh tranh khốc liệt từ nhiều nguồn và nhiều cấp độ trong giai đoạn hội nhập sắp tới.

Lý do để hướng trọng tâm chiến lược vào việc phát triển một thị trường nội địa ổn định và bền vững:

* Trước tiên, mặc dù khu vực kinh tế tư nhân đã khẳng định vai trò cốt yếu và tích cực của mình trong nền kinh tế, chỉ sau năm năm được phép tham gia thị trường, với mức tăng trưởng vượt bậc (24% trong sáu tháng đầu năm 2005) so với các khu vực khác (khu vực quốc doanh: 10%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài: 14%), phần lớn doanh nghiệp này đều còn ở trong giai đoạn khởi nghiệp hoặc tiền phát triển, với một qui mô (vốn, sản xuất và thị trường) còn hạn hẹp và khả năng cạnh tranh hạn chế, nhất là kinh nghiệm doanh nghiệp xuyên quốc gia.

* VN là một thị trường tiềm năng lý tưởng với 83 triệu người tiêu thụ đủ các chủng loại hàng và dịch vụ. Sau một thập kỷ phát triển kinh tế ổn định và đều đặn, một thị trường năng động nhiều tầng đã dần dần định hình với ba tầng chuyên biệt: thu nhập cao, trung bình và thấp. Tuy có mức thu nhập khác nhau, các nhóm tiêu dùng này đều có nguyện vọng cải thiện chất lượng đời sống, tạo động lực khuyến khích doanh nghiệp trong nước tăng gia sản xuất và đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ.

* Đa số mặt hàng xuất khẩu hiện nay từ VN đều được sản xuất hoặc chế biến dưới dạng gia công, có hàm lượng “giá trị cộng thêm” (value added) rất thấp hoặc hoàn toàn không. Các thị trường nhập khẩu nhắm đến (Bắc Mỹ, Nhật và châu Âu) được coi là khó tính, thường có đòi hỏi về tiêu chuẩn chất lượng và an toàn rất khắt khe.

Trong khi đó, đa số doanh nghiệp trong nước vẫn chưa thể tự lực xây dựng và khẳng định vị trí bền vững cho mình vì thiếu các hoạt động xúc tiến thương mại hữu hiệu, thương hiệu vững vàng và lòng tin tưởng của khách hàng ở những thị trường tuy đầy tiềm năng nhưng cũng lắm bất trắc này.

* Trong khi chưa thể sản xuất các mặt hàng cao cấp và tinh tế để thỏa mãn nhu cầu tiêu thụ ở tầng chóp tháp (high-end), khả năng sản xuất và chất lượng của các loại hàng hóa tiêu dùng căn bản khác như thời trang (quần áo, giày dép), lương thực thực phẩm (gạo, muối, đường, thủy sản, thịt gia cầm gia súc, cà phê, hạt điều...), xây dựng (ximăng, sắt thép, gạch men, đá lát...) và vật liệu sản xuất (nhựa, inox...) đều tương đối ổn định và bảo đảm, có thể cung cấp và thỏa mãn nhu cầu của hai phân khúc của nhóm người tiêu dùng còn lại, vốn vẫn còn nhạy cảm về giá cả và yêu cầu về chất lượng không cao lắm.

Thật là nghịch lý khi VN hằng năm sản xuất một số lượng lớn gạo, hạt điều, ximăng, đường, giấy, hoa quả, rau cải, thủy sản... và trong nhiều trường hợp còn có dư thừa để xuất khẩu, thì lại phải nhập khẩu gạo hạt tròn từ Đài Loan và Nhật Bản, thủy sản (cá nục từ Đài Loan, cá hồi từ Na Uy, cá sa ba từ Nhật), trái cây (sầu riêng, nhãn, quít và xoài từ Thái Lan, dưa hấu từ Trung Quốc...), hoặc khó hiểu hơn nữa: bánh trung thu (từ Đài Loan), bánh kẹo (từ Malaysia), hoa quả và rau cải (cà rốt, củ hành... từ Trung Quốc) với giá cao gấp nhiều lần (do chi phí vận chuyển đường dài) nhưng chất lượng (khẩu vị và mức độ tươi sống) không tốt hơn hàng trong nước.

Ngược lại, những ai quan tâm đến bài toán phát triển nội lực nan giải đều cảm thấy chua xót khi thấy các doanh nghiệp Trung Quốc trong nước hay ở nước ngoài (khách sạn, nhà hàng và các cơ sở sản xuất) đều ưu tiên sử dụng, trang bị các sản phẩm sản xuất và chế biến từ nguyên gốc. Chẳng hạn, bất cứ một nhà hàng mang bảng hiệu Trung Quốc nào, bất kỳ ở Paris hay New York, Amsterdam hay London, đều nhập và trang bị toàn bộ vật dụng/vật liệu cần thiết cho doanh nghiệp, từ cây tăm cho đến chén bát, bàn ghế, tranh ảnh, đồ vật trang bị nội thất, nhạc nền... từ chính quốc!

Khách du lịch cũng dễ dàng nhìn thấy ở các khách sạn do người Trung Quốc xây và điều hành, nhất nhất từ miếng gạch lát nền, thang máy, dàn nhạc VCD, tivi, chiếc giường, bộ bàn ghế, tủ lạnh, màn sáo... đều có xuất xứ từ các nguồn cung cấp trong nước.

Trong bối cảnh doanh nghiệp nội địa còn yếu kém hiện nay ở nước ta, một chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp trong nước hữu hiệu cần dựa trên căn bản đồng thuận, liên kết và hợp tác của cả ba thành phần: Nhà nước (điều tiết và hỗ trợ), doanh nghiệp (sản xuất và phân phối) và người tiêu dùng (kiểm tra và quyết định).

Một vài biện pháp cụ thể sau đây có thể giúp doanh nghiệp chủ động nắm vững, khai thác thị trường trong nước và phục hồi lòng tin của khách hàng, với sự hỗ trợ của Nhà nước và người tiêu dùng:

* Phát động một chiến dịch về nguồn (khẩu hiệu: “Ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn” hoặc “dùng hàng nội hóa là yêu nước”) để kêu gọi và khuyến khích người tiêu dùng trong nước chọn hàng nội trước hàng ngoại. Chiến dịch này cần được thực hiện rộng rãi dưới nhiều hình thức (truyền thông đại chúng, quảng cáo, sự kiện, hội chợ, hội thảo...) trong một thời gian dài để làm giảm mức độ hoặc thay đổi tâm lý chuộng hàng ngoại, khinh hàng nội và hội chứng xuất khẩu của thị trường VN hiện nay, dần dần hình thành một nếp văn hóa tiêu thụ tự nguyện mới (người Việt dùng hàng Việt), bắt đầu từ mỗi cá nhân, rồi lan ra gia đình, trường học, công sở, công ty và toàn bộ xã hội.

* Hạn chế hoặc chấm dứt nhập khẩu những loại mặt hàng đã có thể sản xuất ổn định và đạt tiêu chuẩn chất lượng so với hàng ngoại nhập đồng hạng, như Ân Độ và nhiều nước khác đã áp dụng, để giúp doanh nghiệp trong nước có thể tồn tại.

* Khuyến khích các trung tâm bán lẻ và siêu thị áp dụng tỉ trọng 80% hàng sản xuất trong nước (made in Vietnam) như ở Thái Lan và Trung Quốc đã làm, để bảo đảm nguồn cung ứng sản phẩm và tiêu thụ bền vững cho doanh nghiệp hàng tiêu dùng nội địa.

* Tạo những kỳ nghỉ lễ dài hạn (ví dụ: một tuần trong dịp lễ quốc khánh song thập vào tháng mười ở Trung Quốc và tết songkran vào tháng tư ở Thái Lan) để kích cầu tiêu thụ nội địa, nhất là trong lĩnh vực hàng tiêu dùng và các dịch vụ du lịch.

* Tổ chức các sự kiện khuyến mãi dưới hình thức “Tuần Việt Nam” (theo chủ đề: cà phê, trà, giày, thời trang - sơ sinh, trẻ em, phụ nữ, người cao niên, trang phục văn phòng, trang thiêt bị nội thất, đồ dùng điện tử...), với sự bình chọn trực tiếp của khách hàng và người tiêu dùng (về giá cả, tính đa dạng và chất lượng) để tạo uy tín cho những thương hiệu nội địa nổi trội.

* Tập trung nâng cao chất lượng sản phẩm (mẫu mã, độ bền, chức năng) và dịch vụ (cung cách phục vụ, hậu mãi, duy trì mối liên hệ với khách hàng...) nội địa qua kiểm định chính thức (tiêu chuẩn đo lường) và kiểm tra khách quan (người tiêu dùng bình chọn, kênh phản ánh/than phiền của khách hàng, điều tra và phán quyết của hội bảo vệ người tiêu dùng...), để doanh nghiệp trong nước ý thức được ý nghĩa của cạnh tranh lành mạnh dựa vào chất lượng (loại bỏ hàng nhái và hàng trôi nổi) và khẳng định vị trí của mình trên thị trường.

* Khai thác tiềm năng của các thị trường láng giềng, nơi tập trung các cộng đồng Việt kiều đông đảo và thành đạt hoặc có mối liên hệ buôn bán lâu đời như miền Nam Trung Quốc, Hạ Lào, Đông Bắc Thái Lan và Đông Campuchia. Nhờ vào những đặc tính tiêu thụ tương đồng với VN và đường giao thông tiện lợi (một khi “đại lộ xuyên Á”, “vùng tam giác phát triển” và “hai hành lang, một vành đai kinh tế” trở thành hiện thực), những thị trường này là những địa bàn dễ tiếp cận và khai thác cho doanh nghiệp trong nước, trong giai đoạn thử nghiệm năng lực cạnh tranh tiền hội nhập.

Những biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh qua phát triển thị trường nội đia trên đây chỉ có thể có những kết quả cụ thể nếu phương trình liên kết hợp tác và hỗ trợ giữa các thành phần liên quan: chính quyền (xúc tiến thương mại), nhà sản xuất (hiệp hội ngành nghề), người cung cấp/kênh phân phối (chuỗi giá trị liên kết) và nhóm khách hàng (hội bảo vệ người tiêu dùng) được thực hiện và phối hợp một cách chặt chẽ và chuyên nghiệp.

Kinh nghiệm kích cầu hiệu quả của Thái Lan, Malaysia và Trung Quốc trong những năm gần đây có thể cung cấp cho ta những bài học cụ thể để cứu doanh nghiệp trong nước tồn tại, phát triển và tích lũy nội lực trước khi phải đương đầu với cơn sóng thần hội nhập sắp tới. 

Theo Trương Quang - Tuổi Trẻ

Trang chủ
Lưu trang này
In bài này
Gởi cho bạn bài này
Phản hồi bài viết này
Quay lại
CyVee Bookmark
 Các tin khác
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
  
Trang chủ   |   Liên hệ   
© Copyright 2004 - LANTABRAND - Total Brand Solution™
Giấy phép ICP của Bộ Văn hóa Thông tin số 150/GP-BC.
Vui lòng ghi rõ nguồn lantabrand.com khi bạn phát hành lại thông tin từ website này