
Vẫn được đánh giá là phương tiện giao thông quan trọng trong vòng mươi năm nữa, nhưng dường như lối đi cho các doanh nghiệp (DN) xe máy trong nước trong việc tự khẳng định mình còn rất gập ghềnh.
Theo đánh giá của Đề tài “Chiến lược Phát triển công nghiệp xe máy Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020” vừa được Viện nghiên cứu Chiến lược và Chính sách công nghiệp hoàn tất, thì tới cuối năm 2005, có thể chỉ còn 10 DN sản xuất - lắp ráp xe máy trong nước có khả năng tồn tại và phát triển.
Điều đáng quan tâm là các DN trong nước do nhiều hạn chế về tài chính, quản lý và kỹ thuật, trình độ thiết kế mẫu... nên thường “bắt chước” các kiểu dáng xe đã có. Chiến thuật “sao chép và cải tiến” sản phẩm đã tạo ra quá trình chuẩn hoá các sản phẩm xe máy nội địa giá thấp. Vì vậy, không có gì bất ngờ khi các DN có vốn đầu tư nước ngoài vẫn tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong ngành công nghiệp xe máy Việt Nam.
Nếu như năm 2001, số lượng xe mà các DN có vốn đầu tư nước ngoài sản xuất ra chỉ là hơn 325.000 chiếc trên tổng số 2,4 triệu chiếc được sản xuất trong nước, thì tương quan của năm 2004 đã hoàn toàn thay đổi. Trong số 1,9 triệu xe được sản xuất trong nước thì 7 DN có vốn đầu tư nước ngoài đã chiếm hơn 1 triệu xe. Gần 900.000 xe còn lại là do 45 DN trong nước đóng góp, dù trong số này có tới 11 DN chấm dứt sản xuất và chỉ bán hàng tồn.
Các DN trong nước hiện không chỉ bước vào một giai đoạn mới với nhiều khó khăn ngay tại thị trường nội địa, mà con đường phát triển ra thị trường bên ngoài xem ra còn rất gập ghềnh. Năm 2004, trong khi các công ty như Honda Việt Nam đã xuất khẩu được hơn 60.000 xe máy hay VMEP là hơn 15.000 xe (chưa kể động cơ và phụ tùng, linh kiện), thì các DN trong nước chỉ sản xuất khẩu được... 571 xe.
Ông Đỗ Văn Bình, Giám đốc Công ty Vinagimex, một thành viên của Tập đoàn Sản xuất xe máy Việt Nam, cho hay, thị trường châu Phi tuy có nhu cầu xe máy, nhưng xe do các DN Việt Nam xuất sang lại không đáp ứng được yêu cầu về mẫu mã. Đó là chưa kể đường xa, thanh toán qua ngân hàng chưa thuận lợi. Còn thị trường một số nước Nam Á, như Bangladesh thì tuy được đảm bảo mở L/C khi đặt hàng, nhưng các đối tác lại chuyển động khá chậm chạp, khiến kết quả xuất khẩu của DN Việt Nam còn rất khiêm tốn.
“Thị trường châu Phi có nhu cầu về xe máy, nhưng để đẩy mạnh thâm nhập thị trường này, phải có đầu tư để làm ra những kiểu xe phù hợp với thị hiếu của họ, chứ không phải đưa xe hiện có của mình sang. Nhưng đầu tư lớn thì lại khó với các DN trong nước, bởi trước đó đã đầu tư không nhỏ cho sản xuất xe máy mà hiệu quả chưa như mong muốn”, ông Bình nói.
Chính vì lý do trên mà không ít chuyên gia đã trăn trở về mục tiêu tới năm 2010, xe máy sản xuất tại Việt Nam có thể tạo ra “tiếng vang” trong lĩnh vực xuất khẩu sang một số thị trường châu Phi. Lo lắng này là có cơ sở, bởi việc đầu tư cho nghiên cứu và thiết kế hiện vượt quá tầm tay của các DN trong nước, trong khi đây lại là ưu thế của không ít DN có vốn đầu tư nước ngoài.
Tuy vậy, một tín hiệu vui đã đến với các DN trong nước. Mới đây, đề nghị của Hiệp hội Xe đạp - Xe máy về việc hỗ trợ thành lập Trung tâm Nghiên cứu phát triển kiểu dáng xe máy Việt Nam đã được Chính phủ chấp thuận và giao Bộ Khoa học - Công nghệ tìm nguồn vốn trong chương trình triển khai sở hữu trí tuệ để thực hiện.
Theo Đầu Tư